Các nhà khoa học Nga vừa phát minh phương pháp mới về khai thác dầu và khí đốt bằng cách thay mũi khoan bằng chùm tia laser có khả năng thâm nhập những nơi khó tiếp cận, làm tăng đến 90% trích xuất hydrocarbon, trong khi phương pháp đang được vận dụng hiện nay chỉ thu từ 30 - 40% dự trữ.
Việc sử dụng công nghệ sẽ cho phép trích xuất hầu hết dầu và khí đốt từ các vỉa. Một lợi thế khác nữa là tốc độ khai thác dầu sẽ tăng gấp 3-4 lần phương pháp không gây ô nhiễm cho môi trường xung quanh.
Phát minh mở ra cơ hội làm việc ở các giếng khoan đã bị đóng cửa do sự bất lực của phương pháp khai thác cũ.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Hiển thị các bài đăng có nhãn cơ khí chế tạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cơ khí chế tạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014
Thành tựu khoa học công nghệ nổi bật của Việt Nam
1. Giàn khoan tự nâng 90m nước
Đây là giàn khoan đầu tiên của Việt Nam có thể đạt tới độ sâu 90m nước, thuộc sở hữu của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN). Ở Việt Nam, dự án cơ khí này được tài trợ nhiều nhất. Sau khi dự án được lắp đặt thành công trên biển, Việt Nam có thể tự hào là quốc gia sở hữu giàn khoan có chất lượng nằm trong top 3 khu vực châu Á và top 10 trên thế giới.
2. Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt tái hoạt động
Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt đã hoạt động 3 lần trong nửa thế kỷ vừa qua, một lần vào năm 1963, một lần vào năm 1984, và lần gần đây nhất là vào năm 2011. Lần hoạt động thứ ba này diễn ra vào ngày 30/10/2011, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Điều này một lần nữa đã chứng minh rằng Việt Nam có khả năng cung cấp một nguồn năng lượng nguyên tử ổn định; nó cũng đánh dấu một bước phát triển trong việc sản xuất năng lượng trong nước nói chung.
3. Máy soi cắt lớp điện toán trong công nghiệp
Cũng là một loại máy chụp X quang, nhưng thay vì chỉ phát ra một tín hiệu của tia X đến với vật thể được chụp, máy soi cắt lớp điện toán sẽ phát ra nhiều tia X cùng một lúc từ những góc độ khác nhau. Máy được các nhà khoa học của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Vietnam Atomic Energy Commission, VAEC) thiết kế và sản xuất. Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (The International Atomic Energy Agency, IAEA) đã đặt mua 6 chiếc máy nói trên.
4. Dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông
Dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông tân tiến nhất ở khu vực Đông Nam Á được xây dựng và đưa vào hoạt động bởi Trung tâm sản xuất thiết bị điện tử Viettel (một công ty con thuộc tập đoàn viễn thông Viettel). Dây chuyền có khả năng sản xuất khoảng 5 triệu sản phẩm USB, 3 triệu điện thoại di động, và 9 trăm nghìn máy tính cá nhân mỗi năm.
5. Phương pháp phẫu thuật nội soi cắt các khối u tuyến tụy
Khoa Phẫu thuật bụng - Bệnh viện 103, Hà Nội đã thành công trong việc xây dựng và hoàn thiện một phương pháp phẫu thuật nội soi có thể loại bỏ các khối u ở tuyến tụy. Đây là loại phẫu thuật cực kỳ phức tạp và liên quan đến các thiết bị kỹ thuật cao. Sự thành công của phương pháp này đánh dấu một cột mốc mới về phẫu thuật nội soi ổ bụng tại Việt Nam.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Đây là giàn khoan đầu tiên của Việt Nam có thể đạt tới độ sâu 90m nước, thuộc sở hữu của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN). Ở Việt Nam, dự án cơ khí này được tài trợ nhiều nhất. Sau khi dự án được lắp đặt thành công trên biển, Việt Nam có thể tự hào là quốc gia sở hữu giàn khoan có chất lượng nằm trong top 3 khu vực châu Á và top 10 trên thế giới.
2. Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt tái hoạt động
Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt đã hoạt động 3 lần trong nửa thế kỷ vừa qua, một lần vào năm 1963, một lần vào năm 1984, và lần gần đây nhất là vào năm 2011. Lần hoạt động thứ ba này diễn ra vào ngày 30/10/2011, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Điều này một lần nữa đã chứng minh rằng Việt Nam có khả năng cung cấp một nguồn năng lượng nguyên tử ổn định; nó cũng đánh dấu một bước phát triển trong việc sản xuất năng lượng trong nước nói chung.
3. Máy soi cắt lớp điện toán trong công nghiệp
Cũng là một loại máy chụp X quang, nhưng thay vì chỉ phát ra một tín hiệu của tia X đến với vật thể được chụp, máy soi cắt lớp điện toán sẽ phát ra nhiều tia X cùng một lúc từ những góc độ khác nhau. Máy được các nhà khoa học của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Vietnam Atomic Energy Commission, VAEC) thiết kế và sản xuất. Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (The International Atomic Energy Agency, IAEA) đã đặt mua 6 chiếc máy nói trên.
4. Dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông
Dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông tân tiến nhất ở khu vực Đông Nam Á được xây dựng và đưa vào hoạt động bởi Trung tâm sản xuất thiết bị điện tử Viettel (một công ty con thuộc tập đoàn viễn thông Viettel). Dây chuyền có khả năng sản xuất khoảng 5 triệu sản phẩm USB, 3 triệu điện thoại di động, và 9 trăm nghìn máy tính cá nhân mỗi năm.
5. Phương pháp phẫu thuật nội soi cắt các khối u tuyến tụy
Khoa Phẫu thuật bụng - Bệnh viện 103, Hà Nội đã thành công trong việc xây dựng và hoàn thiện một phương pháp phẫu thuật nội soi có thể loại bỏ các khối u ở tuyến tụy. Đây là loại phẫu thuật cực kỳ phức tạp và liên quan đến các thiết bị kỹ thuật cao. Sự thành công của phương pháp này đánh dấu một cột mốc mới về phẫu thuật nội soi ổ bụng tại Việt Nam.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Hướng đi mới của ngành cơ khí
Sau 9 năm triển khai thực hiện Chiến lược phát triển ngành cơ khí, đến nay, các doanh nghiệp cơ khí đã đạt được những kết quả nhất định nhưng cũng còn không ít âu lo về định hướng phát triển tương lai.
Ngày 26/12/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 186/QĐ-TTg (Quyết định 186) phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam. Theo đó, mục tiêu đến năm 2010 ngành cơ khí đáp ứng 45-50% nhu cầu sản phẩm cơ khí cả nước, xuất khẩu đạt 30% giá trị sản lượng.
Những kết quả đáng ghi nhận
Theo báo cáo của Bộ Công Thương, kể từ khi Quyết định 186 được ban hành đến nay, ngành cơ khí đã đạt được một số thành tựu quan trọng.
Về công nghiệp đóng tàu, Việt Nam đã có thể đóng được các loại tàu có chất lượng, đạt tiêu chuẩn quốc tế như tàu chở hàng tải trọng từ 6.500 - 53.000 tấn; các loại tàu cao tốc phục vụ cho an ninh quốc phòng; các loại tàu container; tàu chở dầu thô cỡ 104.000 DWT; tàu chở ô tô 4.900 xe.
Về thiết bị toàn bộ, ngành cơ khí cũng đã đạt được nhiều thành tích đáng kể. Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam đã trở thành Tổng thầu EPC đầu tiên của Việt Nam khi trúng thầu các gói thầu số 2 và số 3 của nhà máy Lọc dầu Dung Quất, tiếp đến chế tạo phần lớn các thiết bị chính của nhà máy Nhiệt điện Na Dương, nhà máy Nhiệt Điện Phú Mỹ 3,4…
Ngành công nghiệp ô tô cũng đã sản xuất, lắp ráp được các loại xe buýt đến 80 chỗ với tỷ lệ nội địa hóa đến 40%, chế tạo ô tô tải nặng và xe chuyên dụng…
Ngành công nghiệp xe máy đã có phát triển đột phá khi thỏa mãn nhu cầu trong nước với tỷ lệ nội địa hóa 80-90 % và xuất khẩu khoảng 150.000 xe/năm.
Đối với các nhà máy thủy điện có công suất đến 300 MW, trước đây Việt Nam vẫn phải nhập khẩu các thiết bị cơ khí thủy công thì nay toàn bộ phần này các doanh nghiệp cơ khí trong nước đã có thể đảm nhận, thậm chí đối với cả nhà máy thủy điện lớn như Sơn La có công suất đến 2.400 MW.
Các ngành sản xuất cơ khí khác như sản xuất động cơ diesel các loại, sản xuất xe đạp, máy bơm nước, cầu trụ, cần trục các loại cũng đạt thành công đáng kể, đáp ứng 40% nhu cầu thị trường trong nước. Đã có động cơ diesel cỡ nhỏ xuất khẩu sang các nước Trung Đông, ASEAN…
Riêng ngành xe đạp đã đạt năng lực sản xuất 3 triệu xe/năm và phục vụ xuất khẩu với kim ngạch hàng trăm triệu USD/năm.
Đặc biệt, lần đầu tiên năm 2010 ngành cơ khí đã chế tạo và hạ thủy dàn khoan tự nâng có độ sâu 90m nước, thay thế hoàn toàn cho việc nhập khẩu, đây cũng là sản phẩm cơ khí ứng dụng công nghệ cao lần đầu tiên được tổ chức sản xuất tại Việt Nam với tỷ lệ nội địa hóa 35%.
Doanh nghiệp cơ khí khó khăn trong đấu thầu
Mặc dù đã làm chủ được công nghệ của một số sản phẩm nhưng theo nhìn nhận của các chuyên gia, mục tiêu mà Quyết định 186 đặt ra chưa đạt được, tính đến năm 2010 ngành cơ khí mới đáp ứng được khoảng 25-28% nhu cầu sản phẩm cơ khí của cả nước thay vì 45-50 % và giá trị xuất khẩu cũng mới dừng mức trên 20% .
Nhập khẩu cơ khí, trong đó nhập khẩu thiết bị máy móc để phục vụ sản xuất vẫn tăng và chiếm tỷ lệ cao, nếu như năm 2006 giá trị nhập khẩu cơ khí là 8,7 tỷ USD thì năm 2010 là 19,12 tỷ USD.
Ông Nguyễn Chỉ Sáng, Viện trưởng Viện nghiên cứu Cơ khí (Bộ Công Thương), nhìn nhận một trong những lý do khiến cho ngành cơ khí không đạt mục tiêu đề ra đó là quy định của Luật Đấu thầu chưa chặt chẽ, dẫn tới các doanh nghiệp trong nước khó cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, bởi trong đấu thầu không tính tới nguồn gốc xuất xứ, không tính tới tỷ lệ nội địa hóa của thiết bị...
Cùng với qua điểm trên, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) Nguyễn Văn Thụ nêu thực tế nhiều công trình sử dụng nguồn vốn nhà nước nhưng vẫn sử dụng các thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài.
Ngoài ra, việc thiếu giải pháp khả thi và hiệu quả gắn kết với các ngành công nghiệp khác dẫn đến việc ngành cơ khí đi chậm hơn.
Cần chính sách cụ thể về vốn và thị trường
Để tạo đà cho ngành cơ khí tiếp tục phát triển, đa số ý kiến của các doanh nghiệp đều cho rằng cần tạo điều kiện về vốn, thị trường.
Giám đốc Công ty Cổ phần Chế tạo thiết bị Đông Anh Trần Văn Quang cho rằng cần có những giải pháp mạnh hỗ trợ ngành cơ khí trong nước thông qua cơ chế tạo đơn hàng, chỉ định thầu hoặc chỉ đấu thầu trong nước các phần việc mà cơ khí trong nước thực hiện được.
Giám đốc Công ty Trường Hải Trần Bá Dương thì đề xuất xây dựng một thị trường phù hợp trong từng giai đoạn cho ngành cơ khí và có chính sách vốn cụ thể đối với từng lĩnh vực trong từng giai đoạn.
Ngoài ra ,một số ý kiến của các thành viên VAMI đề nghị nên coi phát triển cơ khí như phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, theo đó các ngành cần tiếp tục rà soát bố trí lại các lĩnh vực cơ khí theo nhóm, trên cơ sở đó bổ sung các chính sách ưu đãi và đặc biệt ưu đãi để phát triển một số lĩnh vực then chốt.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Ngày 26/12/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 186/QĐ-TTg (Quyết định 186) phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam. Theo đó, mục tiêu đến năm 2010 ngành cơ khí đáp ứng 45-50% nhu cầu sản phẩm cơ khí cả nước, xuất khẩu đạt 30% giá trị sản lượng.
Những kết quả đáng ghi nhận
Theo báo cáo của Bộ Công Thương, kể từ khi Quyết định 186 được ban hành đến nay, ngành cơ khí đã đạt được một số thành tựu quan trọng.
Về công nghiệp đóng tàu, Việt Nam đã có thể đóng được các loại tàu có chất lượng, đạt tiêu chuẩn quốc tế như tàu chở hàng tải trọng từ 6.500 - 53.000 tấn; các loại tàu cao tốc phục vụ cho an ninh quốc phòng; các loại tàu container; tàu chở dầu thô cỡ 104.000 DWT; tàu chở ô tô 4.900 xe.
Về thiết bị toàn bộ, ngành cơ khí cũng đã đạt được nhiều thành tích đáng kể. Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam đã trở thành Tổng thầu EPC đầu tiên của Việt Nam khi trúng thầu các gói thầu số 2 và số 3 của nhà máy Lọc dầu Dung Quất, tiếp đến chế tạo phần lớn các thiết bị chính của nhà máy Nhiệt điện Na Dương, nhà máy Nhiệt Điện Phú Mỹ 3,4…
Ngành công nghiệp ô tô cũng đã sản xuất, lắp ráp được các loại xe buýt đến 80 chỗ với tỷ lệ nội địa hóa đến 40%, chế tạo ô tô tải nặng và xe chuyên dụng…
Ngành công nghiệp xe máy đã có phát triển đột phá khi thỏa mãn nhu cầu trong nước với tỷ lệ nội địa hóa 80-90 % và xuất khẩu khoảng 150.000 xe/năm.
Đối với các nhà máy thủy điện có công suất đến 300 MW, trước đây Việt Nam vẫn phải nhập khẩu các thiết bị cơ khí thủy công thì nay toàn bộ phần này các doanh nghiệp cơ khí trong nước đã có thể đảm nhận, thậm chí đối với cả nhà máy thủy điện lớn như Sơn La có công suất đến 2.400 MW.
Các ngành sản xuất cơ khí khác như sản xuất động cơ diesel các loại, sản xuất xe đạp, máy bơm nước, cầu trụ, cần trục các loại cũng đạt thành công đáng kể, đáp ứng 40% nhu cầu thị trường trong nước. Đã có động cơ diesel cỡ nhỏ xuất khẩu sang các nước Trung Đông, ASEAN…
Riêng ngành xe đạp đã đạt năng lực sản xuất 3 triệu xe/năm và phục vụ xuất khẩu với kim ngạch hàng trăm triệu USD/năm.
Đặc biệt, lần đầu tiên năm 2010 ngành cơ khí đã chế tạo và hạ thủy dàn khoan tự nâng có độ sâu 90m nước, thay thế hoàn toàn cho việc nhập khẩu, đây cũng là sản phẩm cơ khí ứng dụng công nghệ cao lần đầu tiên được tổ chức sản xuất tại Việt Nam với tỷ lệ nội địa hóa 35%.
Doanh nghiệp cơ khí khó khăn trong đấu thầu
Mặc dù đã làm chủ được công nghệ của một số sản phẩm nhưng theo nhìn nhận của các chuyên gia, mục tiêu mà Quyết định 186 đặt ra chưa đạt được, tính đến năm 2010 ngành cơ khí mới đáp ứng được khoảng 25-28% nhu cầu sản phẩm cơ khí của cả nước thay vì 45-50 % và giá trị xuất khẩu cũng mới dừng mức trên 20% .
Nhập khẩu cơ khí, trong đó nhập khẩu thiết bị máy móc để phục vụ sản xuất vẫn tăng và chiếm tỷ lệ cao, nếu như năm 2006 giá trị nhập khẩu cơ khí là 8,7 tỷ USD thì năm 2010 là 19,12 tỷ USD.
Ông Nguyễn Chỉ Sáng, Viện trưởng Viện nghiên cứu Cơ khí (Bộ Công Thương), nhìn nhận một trong những lý do khiến cho ngành cơ khí không đạt mục tiêu đề ra đó là quy định của Luật Đấu thầu chưa chặt chẽ, dẫn tới các doanh nghiệp trong nước khó cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, bởi trong đấu thầu không tính tới nguồn gốc xuất xứ, không tính tới tỷ lệ nội địa hóa của thiết bị...
Cùng với qua điểm trên, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) Nguyễn Văn Thụ nêu thực tế nhiều công trình sử dụng nguồn vốn nhà nước nhưng vẫn sử dụng các thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài.
Ngoài ra, việc thiếu giải pháp khả thi và hiệu quả gắn kết với các ngành công nghiệp khác dẫn đến việc ngành cơ khí đi chậm hơn.
Cần chính sách cụ thể về vốn và thị trường
Để tạo đà cho ngành cơ khí tiếp tục phát triển, đa số ý kiến của các doanh nghiệp đều cho rằng cần tạo điều kiện về vốn, thị trường.
Giám đốc Công ty Cổ phần Chế tạo thiết bị Đông Anh Trần Văn Quang cho rằng cần có những giải pháp mạnh hỗ trợ ngành cơ khí trong nước thông qua cơ chế tạo đơn hàng, chỉ định thầu hoặc chỉ đấu thầu trong nước các phần việc mà cơ khí trong nước thực hiện được.
Giám đốc Công ty Trường Hải Trần Bá Dương thì đề xuất xây dựng một thị trường phù hợp trong từng giai đoạn cho ngành cơ khí và có chính sách vốn cụ thể đối với từng lĩnh vực trong từng giai đoạn.
Ngoài ra ,một số ý kiến của các thành viên VAMI đề nghị nên coi phát triển cơ khí như phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, theo đó các ngành cần tiếp tục rà soát bố trí lại các lĩnh vực cơ khí theo nhóm, trên cơ sở đó bổ sung các chính sách ưu đãi và đặc biệt ưu đãi để phát triển một số lĩnh vực then chốt.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Ngành cơ khí xuất hiện hiện tượng lạ
Chế tạo chiếc cần cẩu 1.200 tấn phục vụ cho công trình nhà máy thủy điện Sơn La, Giám đốc Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung Nguyễn Tăng Cường được coi là “hiện tượng lạ” trong ngành cơ khí vì ông đã không chỉ vượt qua thách thức về khoa học, kỹ thuật mà còn là một thách thức rất lớn về tâm lý vì chưa có ai ở VN từng nghĩ đến chuyện chế tạo cần cẩu có tải trọng lớn như vậy.
Chỉ trong một thời gian ngắn, với hơn 300 sáng kiến cải tiến kỹ thuật, trong đó có khá nhiều sáng kiến cấp Nhà nước đã giúp nâng tỷ lệ nội địa hóa thiết bị do Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung chế tạo lên mức hơn 90%, giá thành chỉ bằng 40-50% so với sản phẩm của Tây Âu và bằng 60-70% so với sản phẩm của Trung Quốc. Điều gì khiến một người “ngoại đạo” lại có thể thành công trong một lĩnh vực được coi là rất khó ở VN?
“Hiện tượng lạ”
“Thời kỳ đầu, Xí nghiệp sản xuất ra cần cẩu bán không ai mua. Để mọi người tin, mua hàng của mình, tôi quyết định mạo hiểm bán chịu cần cẩu cho những ai có nhu cầu. Nhờ chất lượng tốt, giá rẻ, chế độ hậu mãi tốt, sản phẩm của Xí nghiệp đã chiếm được lòng tin của thị trường. Từ chỗ chuyên cung cấp phụ tùng như bi đạn, tấm lót và các sản phẩm cơ khí luyện kim cho các nhà máy xi măng, đến nay, Xí nghiệp cơ khí Quang Trung đã chế tạo được khoảng 50 chủng loại cẩu, bao gồm: cẩu trục, cổng trục, cẩu chân đế, cẩu tháp... Việc chế tạo thành công các thiết bị nâng hạ không chỉ mở ra hướng đi mới cho DN mà còn mở ra một trang mới cho ngành cơ khí VN, tiết kiệm được nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước do không còn phải nhập khẩu. Đặc biệt, thành công của việc chế tạo vành mâm xoay cho các cần cẩu chân đế khiến giới khoa học ngỡ ngàng” - ông Cường chia sẻ.
Là người khát khao chinh phục những đỉnh cao mới trong lĩnh vực cơ khí, ông Cường luôn đặt cho mình những mục tiêu mới để vượt qua. Trong rất nhiều câu chuyện nói về nỗ lực chinh phục khoa học- kỹ thuật, không thể không kể đến câu chuyện Nguyễn Tăng Cường chế tạo chiếc cần cẩu 1.200 tấn phục vụ cho công trình nhà máy thủy điện Sơn La. Đây không chỉ là một thách thức về khoa học, kỹ thuật mà còn là một thách thức rất lớn về tâm lý vì chưa có ai ở VN từng nghĩ đến chuyện chế tạo cần cẩu có tải trọng lớn như vậy. Mức độ an toàn, chính xác cho thiết bị này phải là tuyệt đối. Một chiếc cần cẩu thả rotor nặng cả nghìn tấn vào lỗ tổ máy, chỉ có “chừa” khoảng cách 8 mm, nếu sai sót, cần cẩu thả chệch đi, va vào một bên đi là coi như hỏng cả công trình, là tai họa. Nhưng với những nỗ lực, niềm đam mê, cùng sự hỗ trợ đắc lực của các cộng sự, thành công của ông đã xóa tan mọi nghi ngại trước đó đồng thời khẳng định nếu có khát vọng, có ý chí thì doanh nghiệp doanh nhân VN hoàn toàn có thể đạt được thành công. Đây chính là động lực quan trọng để ông “vua” cần cẩu tiếp tục nghiên cứu, sản xuất những chiếc cần cẩu 5.000-6.000 tấn “made in Vietnam” có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực.
Cũng nhờ những sáng kiến này, EVN đã hợp tác với Xí nghiệp cơ khí Quang Trung trong việc cung cấp cần cẩu cho hàng loạt các dự án thủy điện khác như Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, Sông Tranh, Huội Quảng, Bản Chát, Hủa Na. Tới đây, thủy điện Lai Châu cũng được sự chấp thuận của Thủ tướng tiếp tục cho xí nghiệp cơ khí Quang Trung làm cần cẩu hạng nặng.
Không quá khi nói rằng Nguyễn Tăng Cường như một hiện tượng lạ trong ngành cơ khí chế tạo VN bởi một người không được đào tạo chuyên ngành, không học hàm học vị, ít vốn lại có thể đạt được những thành công ngoài mong đợi. Có rất nhiều cách lý giải cho thành công của cá nhân ông Cường nói riêng và xí nghiệp cơ khí Quang Trung nói chung nhưng có lẽ câu nói: "Tôi muốn chế tạo được nhiều sản phẩm cơ khí chất lượng cao, giúp đất nước giảm được ngoại tệ nhập khẩu. Tôi thực sự mong muốn góp phần vào sự phát triển ngành cơ khí chế tạo, bởi thiếu nó thì ngành công nghiệp của đất nước không thể phát triển" thuyết phục hơn cả. Cách lý giải này cho thấy tầm nhìn sâu rộng của người trong “nghề” với những trải nghiệm thực tế.
Trăn trở
Tự hào về những thành quả của xí nghiệp cơ khí Quang Trung giai đoạn vừa qua cũng như rất tin tưởng vào định hướng chiến lược sắp tới nhưng trong câu chuyện với chúng tôi, ông Nguyễn Tăng Cường luôn đau đáu một câu hỏi: Vì sao cơ khí chế tạo VN cứ mãi ỳ ạch dù cho chính sách về cơ khí trọng điểm đã ban hành?. Bởi hơn ai hết ông hiểu rằng những thành tựu cơ khí mà Quang Trung đạt được nói riêng và ngành cơ khí nói chung mới chỉ là bước đầu và khá khiêm tốn so với sự phát triển mạnh mẽ của thế giới trong những năm gần đây. Ngành cơ khí đang cần nhiều nguồn lực, nhiều đột phá để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong tương lai.
Ông cho rằng, Nhà nước còn thiếu hoạch định chiến lược dài hạn cho ngành này, thiếu những sự đầu tư bài bản, chuyên nghiệp bằng cơ chế chính sách cụ thể và vốn ưu đãi. Đồng thời, ông cũng chỉ ra thực trạng: Tình trạng chung của hầu hết các DN cơ khí trong nước là thiếu vốn; công nghệ, thiết bị chế tạo còn lạc hâụ, sản xuất còn manh mún, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về sản phẩm công nghệ cao; vốn ít, việc tiếp cận vốn của ngân hàng với lãi suất thấp hết sức khó khăn. Việc đầu tư của ngành cơ khí những năm qua còn phân tán và chưa đồng bộ, chưa có một cơ sở chế tạo nào đủ mạnh làm đòn bẩy thúc đẩy toàn ngành. Thiếu nhân lực chất lượng cao cho ngành kể cả cán bộ hoạch định chính sách, quản lý, tư vấn, thiết kế, công nhân kỹ thuật có tay nghề...
Theo ông Cường, ngành cơ khí chỉ thực sự phát triển khi chúng ta có hoạch định và chính sách tốt. Mục tiêu đến năm 2020 VN sẽ trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong đó, coi cơ khí là một ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hôị, bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế, củng cố an ninh, quốc phòng. Một nước công nghiệp đương nhiên không thể không phát triển ngành cơ khí, chế tạo máy, công nghiệp nặng. Tất cả đã được nhận diện nhưng khi DN không vững niềm tin, không có hoài bão, không tâm huyết, không có những chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển thì họ sẽ chọn những việc dễ để làm. Chẳng hạn cách đây vài năm, họ sẽ lựa chọn việc đi “buôn đất” cho nhẹ đầu, thay vì làm cơ khí...
“Chúng ta vẫn nói về cơ chế thị trường có sự quản lý và định hướng của nhà nước vậy thì những ngành nghề nóng hoặc đã bão hòa thì phải có sự điều tiết, can thiệp của nhà nước bằng cơ chế chính sách, tránh lãng phí nguồn lực. Những ngành nào thực sự có nhu cầu thì phải có chính sách khuyến khích thúc đẩy phát triển. Đã có quá nhiều bài học cho vấn đề này. Ví dụ như trong giai đoạn vừa qua, sản xuất xi măng dư thừa thì phải có những chính sách để hạn chế các DN đầu tư. Những ngành nghề cần thiết đối với sự phát triển kinh tế xã hội đất nước như cơ khí chế tạo, thì rất cần đầu tư nguồn lực, đầu tư chất xám, trí tuệ... Trong đó, không thể không nhắc đến cơ chế chính sách về vốn, mặt bằng, đào tạo... Trong điều kiện như hiện nay, với lãi suất ngân hàng đang áp dụng thì các DN vẫn còn rất khó khăn và các DN cơ khí chế tạo còn khó khăn gấp bội do đặc thù đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn, lợi nhuận thấp hơn các ngành khác, thời gian thu hồi vốn cũng lâu hơn rất nhiều... Đây là một bài toán rất khó đòi hỏi không chỉ trí tuệ của các doanh nhân, nhà khoa học mà của các nhà quản lý, hoạch định chính sách” - ông Cường chia sẻ.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Chỉ trong một thời gian ngắn, với hơn 300 sáng kiến cải tiến kỹ thuật, trong đó có khá nhiều sáng kiến cấp Nhà nước đã giúp nâng tỷ lệ nội địa hóa thiết bị do Xí nghiệp Cơ khí Quang Trung chế tạo lên mức hơn 90%, giá thành chỉ bằng 40-50% so với sản phẩm của Tây Âu và bằng 60-70% so với sản phẩm của Trung Quốc. Điều gì khiến một người “ngoại đạo” lại có thể thành công trong một lĩnh vực được coi là rất khó ở VN?
“Hiện tượng lạ”
“Thời kỳ đầu, Xí nghiệp sản xuất ra cần cẩu bán không ai mua. Để mọi người tin, mua hàng của mình, tôi quyết định mạo hiểm bán chịu cần cẩu cho những ai có nhu cầu. Nhờ chất lượng tốt, giá rẻ, chế độ hậu mãi tốt, sản phẩm của Xí nghiệp đã chiếm được lòng tin của thị trường. Từ chỗ chuyên cung cấp phụ tùng như bi đạn, tấm lót và các sản phẩm cơ khí luyện kim cho các nhà máy xi măng, đến nay, Xí nghiệp cơ khí Quang Trung đã chế tạo được khoảng 50 chủng loại cẩu, bao gồm: cẩu trục, cổng trục, cẩu chân đế, cẩu tháp... Việc chế tạo thành công các thiết bị nâng hạ không chỉ mở ra hướng đi mới cho DN mà còn mở ra một trang mới cho ngành cơ khí VN, tiết kiệm được nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước do không còn phải nhập khẩu. Đặc biệt, thành công của việc chế tạo vành mâm xoay cho các cần cẩu chân đế khiến giới khoa học ngỡ ngàng” - ông Cường chia sẻ.
Là người khát khao chinh phục những đỉnh cao mới trong lĩnh vực cơ khí, ông Cường luôn đặt cho mình những mục tiêu mới để vượt qua. Trong rất nhiều câu chuyện nói về nỗ lực chinh phục khoa học- kỹ thuật, không thể không kể đến câu chuyện Nguyễn Tăng Cường chế tạo chiếc cần cẩu 1.200 tấn phục vụ cho công trình nhà máy thủy điện Sơn La. Đây không chỉ là một thách thức về khoa học, kỹ thuật mà còn là một thách thức rất lớn về tâm lý vì chưa có ai ở VN từng nghĩ đến chuyện chế tạo cần cẩu có tải trọng lớn như vậy. Mức độ an toàn, chính xác cho thiết bị này phải là tuyệt đối. Một chiếc cần cẩu thả rotor nặng cả nghìn tấn vào lỗ tổ máy, chỉ có “chừa” khoảng cách 8 mm, nếu sai sót, cần cẩu thả chệch đi, va vào một bên đi là coi như hỏng cả công trình, là tai họa. Nhưng với những nỗ lực, niềm đam mê, cùng sự hỗ trợ đắc lực của các cộng sự, thành công của ông đã xóa tan mọi nghi ngại trước đó đồng thời khẳng định nếu có khát vọng, có ý chí thì doanh nghiệp doanh nhân VN hoàn toàn có thể đạt được thành công. Đây chính là động lực quan trọng để ông “vua” cần cẩu tiếp tục nghiên cứu, sản xuất những chiếc cần cẩu 5.000-6.000 tấn “made in Vietnam” có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực.
Cũng nhờ những sáng kiến này, EVN đã hợp tác với Xí nghiệp cơ khí Quang Trung trong việc cung cấp cần cẩu cho hàng loạt các dự án thủy điện khác như Đồng Nai 3, Đồng Nai 4, Sông Tranh, Huội Quảng, Bản Chát, Hủa Na. Tới đây, thủy điện Lai Châu cũng được sự chấp thuận của Thủ tướng tiếp tục cho xí nghiệp cơ khí Quang Trung làm cần cẩu hạng nặng.
Không quá khi nói rằng Nguyễn Tăng Cường như một hiện tượng lạ trong ngành cơ khí chế tạo VN bởi một người không được đào tạo chuyên ngành, không học hàm học vị, ít vốn lại có thể đạt được những thành công ngoài mong đợi. Có rất nhiều cách lý giải cho thành công của cá nhân ông Cường nói riêng và xí nghiệp cơ khí Quang Trung nói chung nhưng có lẽ câu nói: "Tôi muốn chế tạo được nhiều sản phẩm cơ khí chất lượng cao, giúp đất nước giảm được ngoại tệ nhập khẩu. Tôi thực sự mong muốn góp phần vào sự phát triển ngành cơ khí chế tạo, bởi thiếu nó thì ngành công nghiệp của đất nước không thể phát triển" thuyết phục hơn cả. Cách lý giải này cho thấy tầm nhìn sâu rộng của người trong “nghề” với những trải nghiệm thực tế.
Trăn trở
Tự hào về những thành quả của xí nghiệp cơ khí Quang Trung giai đoạn vừa qua cũng như rất tin tưởng vào định hướng chiến lược sắp tới nhưng trong câu chuyện với chúng tôi, ông Nguyễn Tăng Cường luôn đau đáu một câu hỏi: Vì sao cơ khí chế tạo VN cứ mãi ỳ ạch dù cho chính sách về cơ khí trọng điểm đã ban hành?. Bởi hơn ai hết ông hiểu rằng những thành tựu cơ khí mà Quang Trung đạt được nói riêng và ngành cơ khí nói chung mới chỉ là bước đầu và khá khiêm tốn so với sự phát triển mạnh mẽ của thế giới trong những năm gần đây. Ngành cơ khí đang cần nhiều nguồn lực, nhiều đột phá để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong tương lai.
Ông cho rằng, Nhà nước còn thiếu hoạch định chiến lược dài hạn cho ngành này, thiếu những sự đầu tư bài bản, chuyên nghiệp bằng cơ chế chính sách cụ thể và vốn ưu đãi. Đồng thời, ông cũng chỉ ra thực trạng: Tình trạng chung của hầu hết các DN cơ khí trong nước là thiếu vốn; công nghệ, thiết bị chế tạo còn lạc hâụ, sản xuất còn manh mún, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao về sản phẩm công nghệ cao; vốn ít, việc tiếp cận vốn của ngân hàng với lãi suất thấp hết sức khó khăn. Việc đầu tư của ngành cơ khí những năm qua còn phân tán và chưa đồng bộ, chưa có một cơ sở chế tạo nào đủ mạnh làm đòn bẩy thúc đẩy toàn ngành. Thiếu nhân lực chất lượng cao cho ngành kể cả cán bộ hoạch định chính sách, quản lý, tư vấn, thiết kế, công nhân kỹ thuật có tay nghề...
Theo ông Cường, ngành cơ khí chỉ thực sự phát triển khi chúng ta có hoạch định và chính sách tốt. Mục tiêu đến năm 2020 VN sẽ trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trong đó, coi cơ khí là một ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hôị, bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế, củng cố an ninh, quốc phòng. Một nước công nghiệp đương nhiên không thể không phát triển ngành cơ khí, chế tạo máy, công nghiệp nặng. Tất cả đã được nhận diện nhưng khi DN không vững niềm tin, không có hoài bão, không tâm huyết, không có những chính sách khuyến khích hỗ trợ phát triển thì họ sẽ chọn những việc dễ để làm. Chẳng hạn cách đây vài năm, họ sẽ lựa chọn việc đi “buôn đất” cho nhẹ đầu, thay vì làm cơ khí...
“Chúng ta vẫn nói về cơ chế thị trường có sự quản lý và định hướng của nhà nước vậy thì những ngành nghề nóng hoặc đã bão hòa thì phải có sự điều tiết, can thiệp của nhà nước bằng cơ chế chính sách, tránh lãng phí nguồn lực. Những ngành nào thực sự có nhu cầu thì phải có chính sách khuyến khích thúc đẩy phát triển. Đã có quá nhiều bài học cho vấn đề này. Ví dụ như trong giai đoạn vừa qua, sản xuất xi măng dư thừa thì phải có những chính sách để hạn chế các DN đầu tư. Những ngành nghề cần thiết đối với sự phát triển kinh tế xã hội đất nước như cơ khí chế tạo, thì rất cần đầu tư nguồn lực, đầu tư chất xám, trí tuệ... Trong đó, không thể không nhắc đến cơ chế chính sách về vốn, mặt bằng, đào tạo... Trong điều kiện như hiện nay, với lãi suất ngân hàng đang áp dụng thì các DN vẫn còn rất khó khăn và các DN cơ khí chế tạo còn khó khăn gấp bội do đặc thù đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn, lợi nhuận thấp hơn các ngành khác, thời gian thu hồi vốn cũng lâu hơn rất nhiều... Đây là một bài toán rất khó đòi hỏi không chỉ trí tuệ của các doanh nhân, nhà khoa học mà của các nhà quản lý, hoạch định chính sách” - ông Cường chia sẻ.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Doanh nghiệp cơ khí còn lắm khó khăn
Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) đang tràn trề hy vọng vào một cơ hội giành lại vị thế sân nhà. Sự lạc quan ấy không phải không có cơ sở, bởi mới đây, VAMI đã gửi báo cáo lên Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ đề nghị cho chủ trương kiểm tra lại toàn bộ các dự án công nghiệp theo dạng tổng thầu do doanh nghiệp nước ngoài trúng thầu nhưng thi công dở dang để huy động lực lượng trong nước kết hợp với các nhà thầu nước ngoài khác hoàn chỉnh. Dù chưa nhận được câu trả lời, nhưng dẫu sao đây cũng là tín hiệu tích cực về tính chủ động của VAMI.Đây cũng là dịp để nhìn lại vì sao mà doanh nghiệp cơ khí nội yếu thế đến vậy?
Thực tế này là hệ quả của hệ thống pháp luật liên quan đến đấu thầu từng ưu tiên các nhà thầu có giá thấp mà chưa chú trọng đúng mức đến những điều kiện đi kèm bảo đảm năng lực thực thi. Về điểm này, Luật Đấu thầu 2013 đã khắc phục và thời gian tới tình hình hẳn sẽ được chuyển đổi tích cực hơn. Thế nhưng, sự còi cọc của doanh nghiệp cơ khí trong nước còn đến từ chính việc các giải pháp về cơ chế chính sách đã ban hành hỗ trợ ngành cơ khí không những không nhất quán mà còn không được thực hiện nghiêm túc. Có thể dẫn chứng Chỉ thị số 494/CT-TTg về việc sử dụng vật tư hàng hóa sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu, tuy có hiệu lực từ ngày 20-4-2010, nhưng hiện vẫn thiếu hướng dẫn và chế tài cụ thể. Thêm nữa, tuy hình thức các gói thầu EPC nở rộ, nhưng lại chưa có tổng kết và điều chỉnh cụ thể đối với loại hình này nhằm tạo cơ chế ưu tiên các tổng thầu sử dụng nhiều doanh nghiệp cơ khí trong nước trong công tác thiết kế, chế tạo thiết bị của dự án như Chỉ thị số 734/CT-TTg ngày 17-5-2011 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định.
Điều đáng nói, miếng bánh thị phần bấy lâu nay không dành cho "kẻ yếu", các doanh nghiệp cơ khí trong nước làm sao có cơ hội mở rộng thị trường khi mà chính những chủ đầu tư trong nước cũng quay lưng với họ? Ngày 29-11-2012, Chính phủ đã phê duyệt cơ chế thực hiện thí điểm thiết kế, chế tạo trong nước các thiết bị nhà máy nhiệt điện trong giai đoạn 2012-2025. Theo đó, yêu cầu chủ đầu tư các dự án nhà máy nhiệt điện thuộc hình thức BOT phải thực hiện tối đa việc giao cho doanh nghiệp cơ khí trong nước thiết kế chế tạo thiết bị phụ. Song 16 tháng trôi qua, các doanh nghiệp này vẫn chưa có điều kiện tiếp xúc với chủ đầu tư, chưa nói gì đến bàn bạc triển khai. Xem ra, chặng đường chuyển đổi về chất của doanh nghiệp cơ khí còn lắm "gập ghềnh", một khi câu chuyện "tự làm yếu mình" kể trên vẫn chưa được giải quyết từ gốc. VAMI còn đơn độc thì khó lòng một ngành được hoạch định là giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có thể cất cánh.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Thực tế này là hệ quả của hệ thống pháp luật liên quan đến đấu thầu từng ưu tiên các nhà thầu có giá thấp mà chưa chú trọng đúng mức đến những điều kiện đi kèm bảo đảm năng lực thực thi. Về điểm này, Luật Đấu thầu 2013 đã khắc phục và thời gian tới tình hình hẳn sẽ được chuyển đổi tích cực hơn. Thế nhưng, sự còi cọc của doanh nghiệp cơ khí trong nước còn đến từ chính việc các giải pháp về cơ chế chính sách đã ban hành hỗ trợ ngành cơ khí không những không nhất quán mà còn không được thực hiện nghiêm túc. Có thể dẫn chứng Chỉ thị số 494/CT-TTg về việc sử dụng vật tư hàng hóa sản xuất trong nước trong công tác đấu thầu, tuy có hiệu lực từ ngày 20-4-2010, nhưng hiện vẫn thiếu hướng dẫn và chế tài cụ thể. Thêm nữa, tuy hình thức các gói thầu EPC nở rộ, nhưng lại chưa có tổng kết và điều chỉnh cụ thể đối với loại hình này nhằm tạo cơ chế ưu tiên các tổng thầu sử dụng nhiều doanh nghiệp cơ khí trong nước trong công tác thiết kế, chế tạo thiết bị của dự án như Chỉ thị số 734/CT-TTg ngày 17-5-2011 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định.
Điều đáng nói, miếng bánh thị phần bấy lâu nay không dành cho "kẻ yếu", các doanh nghiệp cơ khí trong nước làm sao có cơ hội mở rộng thị trường khi mà chính những chủ đầu tư trong nước cũng quay lưng với họ? Ngày 29-11-2012, Chính phủ đã phê duyệt cơ chế thực hiện thí điểm thiết kế, chế tạo trong nước các thiết bị nhà máy nhiệt điện trong giai đoạn 2012-2025. Theo đó, yêu cầu chủ đầu tư các dự án nhà máy nhiệt điện thuộc hình thức BOT phải thực hiện tối đa việc giao cho doanh nghiệp cơ khí trong nước thiết kế chế tạo thiết bị phụ. Song 16 tháng trôi qua, các doanh nghiệp này vẫn chưa có điều kiện tiếp xúc với chủ đầu tư, chưa nói gì đến bàn bạc triển khai. Xem ra, chặng đường chuyển đổi về chất của doanh nghiệp cơ khí còn lắm "gập ghềnh", một khi câu chuyện "tự làm yếu mình" kể trên vẫn chưa được giải quyết từ gốc. VAMI còn đơn độc thì khó lòng một ngành được hoạch định là giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có thể cất cánh.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Ngành cơ khí từ bỏ sân nhà
Những năm gần đây, ngành cơ khí trong nước đã đạt một số thành tựu, làm chủ được tổng thầu những dự án lớn và tiến tới xuất khẩu. Dù vậy, hầu hết hợp đồng dự án cơ khí lớn, nhỏ vẫn lọt vào tay nhà thầu nước ngoài, trong khi đó lại bỏ ngỏ tiềm năng sân nhà.
“Lép vế” hoàn toàn
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI), sau 10 năm thực hiện chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020, nhiều sản phẩm như: thiết bị đồng bộ, đóng tàu, lắp ráp ô tô, máy nông nghiệp, thiết bị điện, máy xây dựng, phụ tùng cơ khí đã có thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế. Doanh thu về sản phẩm cơ khí tăng đều trên 20% trong khoảng 10 năm. Tuy nhiên, có một nghịch lý là nhiều dự án cơ khí trong nước đều rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài, trong đó số đông là nhà thầu Trung Quốc. Trong khi đó, không ít dự án doanh nghiệp trong nước có thể làm được.
Chỉ tính riêng từ năm 2003 đến 2011, nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu EPC 5/6 dự án hóa chất, 2/2 dự án chế biến khoáng sản, 49/62 dự án xi măng và nhiều dự án giao thông. Riêng về nhiệt điện, có 16/27 dự án do Trung Quốc làm tổng thầu. Điều đáng nói, các dự án này bị chậm tiến độ từ 3 tháng đến 3 năm, chất lượng thiết bị không đồng đều, một số thiết bị phụ trợ chất lượng thấp thường bị thay thế.
Ở một số dự án, diễn ra tình trạng thay đổi thiết bị so với cam kết ban đầu, thay đổi tiêu chuẩn vật liệu; thay đổi hoặc bổ sung nhà cung cấp, dẫn tới đội giá hợp đồng. Đáng chú ý, nhiều nhà thầu đã đưa vật tư sắt thép, phụ tùng, phụ kiện có thể chế tạo tại Việt Nam và cả lao động phổ thông sang các công trình mà họ làm tổng thầu. Đối với các công trình lớn như các nhà máy Nhiệt điện Cà Mau, Nhơn Trạch 1, Uông Bí… dù được giao cho các doanh nghiệp trong nước làm tổng thầu EPC, nhưng hầu hết phần thiết bị có giá trị cao lại được các nhà thầu Việt Nam giao cho các nhà thầu phụ nước ngoài đảm nhiệm.
Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu cơ khí Nguyễn Chỉ Sáng, trong số 21 nhà máy xi măng, loại trừ xi măng Sông Thao do Tổng công ty Lắp máy Việt Nam làm tổng thầu EPC có tỷ lệ nội địa hóa 40%. Các dự án còn lại do Trung Quốc làm tổng thầu thì tỷ lệ nội địa hóa là 0%! Ngay cả các dự án của ngành than cũng lựa chọn giải pháp nhập khẩu các thiết bị cơ khí thay vì thiết kế và chế tạo trong nước.
Việc để các nhà thầu nước ngoài “thâu tóm” hầu hết các dự án trọng điểm đã dẫn đến hệ lụy là nhân công của ngành cơ khí trong nước mất việc, gia công đạt giá trị gia tăng thấp, còn nền kinh tế bị thiệt hại toàn diện. Tiêu biểu như tại Nhà máy alumin Lâm Đồng, nhà thầu Trung Quốc “ôm” gói thầu 466 triệu USD, nhưng chỉ giao lại cho Việt Nam 170 tỷ đồng, không tới 8 triệu USD. Tương tự, Nhà máy alumin Nhân Cơ có giá trị hợp đồng 499 triệu USD, thì giao thầu phụ Việt Nam vỏn vẹn có 53 tỷ đồng, khoảng 2,5 triệu USD!
Rào cản chính sách
Theo các chuyên gia kinh tế, nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do các chính sách hiện nay chưa ủng hộ, thậm chí gây bất lợi cho doanh nghiệp cơ khí trong nước. Trong đó, rào cản của Luật Đấu thầu là một minh chứng, khi quá ưu tiên các nhà thầu có giá bỏ thầu thấp nhưng chưa quan tâm đến nguồn gốc xuất xứ về chất lượng thiết bị.
Đây không chỉ là nguyên nhân khiến các nhà thầu trong nước vốn rất yếu về thực lực tài chính thua Trung Quốc, mà ngay cả các nhà thầu giàu tiềm lực trên thế giới cũng khó vượt qua. Đối với vấn đề tài chính, nhiều dự án thực hiện chỉ định thầu EPC là do nhà thầu Trung Quốc thu xếp từ nguồn vay Trung Quốc với lãi suất thấp, thủ tục vay đơn giản càng khiến các nhà thầu khác không thể cạnh tranh về giá.
Theo ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch VAMI, để ngăn chặn tình trạng này, Chính phủ cần có biện pháp giám sát, kiểm tra, chế tài việc nhiều dự án trọng điểm quốc gia như nhiệt điện, khai khoáng, xi măng… do nhà thầu Trung Quốc thực hiện, không tạo điều kiện cho thầu phụ trong nước, đặc biệt là những dự án sử dụng lao động phổ thông trong công trình.
Trên thực tế, ngoài một số nỗ lực đã đạt được, trong thời gian qua ngành cơ khí trong nước còn một số hạn chế, trong đó rất thiếu vốn để đầu tư mở rộng phát triển sản xuất, nâng cao công nghệ. Theo VAMI, hiện có tới 50% các doanh nghiệp thuộc hội đang thiếu vốn. Do không có vốn, doanh nghiệp không thể đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất, dẫn đến sức cạnh tranh còn yếu so với nước ngoài. Do đó, hiện 80% thị trường cơ khí trong nước thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài. Ngoài ra, những khâu quan trọng như đúc, tạo phôi, công nghệ nhiệt luyện, thiết kế và đào tạo nguồn nhân lực... cũng chưa được đầu tư nhiều. Vì vậy, mặc dù tỷ lệ nội địa hóa đã được nâng lên trong các năm qua nhưng tỷ lệ gia tăng về giá trị gia tăng của ngành còn thấp. Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp Phan Đăng Tuất, hiện mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 18 tỷ USD máy móc thiết bị.
Điều này cho thấy thị trường Việt Nam rất tiềm năng, nhưng ngành cơ khí với một số hạn chế nhất định, không thể có tham vọng tự chế tạo và thay thế hoàn toàn nhập khẩu. Do đó, trước mắt để đưa ngành cơ khí Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cần ưu tiên phát triển những sản phẩm, công đoạn mà Việt Nam có thế mạnh hoặc có thị trường tiêu thụ lớn. Mặt khác, lựa chọn một số sản phẩm cơ khí chế tạo trong nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm để tập trung đầu tư. Đặc biệt, nên dành vốn hoặc bảo lãnh cho vay nước ngoài để gấp rút đầu tư những nhà máy quan trọng, có công nghệ tiên tiến để chế tạo thiết bị đồng bộ.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
“Lép vế” hoàn toàn
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI), sau 10 năm thực hiện chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020, nhiều sản phẩm như: thiết bị đồng bộ, đóng tàu, lắp ráp ô tô, máy nông nghiệp, thiết bị điện, máy xây dựng, phụ tùng cơ khí đã có thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế. Doanh thu về sản phẩm cơ khí tăng đều trên 20% trong khoảng 10 năm. Tuy nhiên, có một nghịch lý là nhiều dự án cơ khí trong nước đều rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài, trong đó số đông là nhà thầu Trung Quốc. Trong khi đó, không ít dự án doanh nghiệp trong nước có thể làm được.
Chỉ tính riêng từ năm 2003 đến 2011, nhà thầu Trung Quốc làm tổng thầu EPC 5/6 dự án hóa chất, 2/2 dự án chế biến khoáng sản, 49/62 dự án xi măng và nhiều dự án giao thông. Riêng về nhiệt điện, có 16/27 dự án do Trung Quốc làm tổng thầu. Điều đáng nói, các dự án này bị chậm tiến độ từ 3 tháng đến 3 năm, chất lượng thiết bị không đồng đều, một số thiết bị phụ trợ chất lượng thấp thường bị thay thế.
Ở một số dự án, diễn ra tình trạng thay đổi thiết bị so với cam kết ban đầu, thay đổi tiêu chuẩn vật liệu; thay đổi hoặc bổ sung nhà cung cấp, dẫn tới đội giá hợp đồng. Đáng chú ý, nhiều nhà thầu đã đưa vật tư sắt thép, phụ tùng, phụ kiện có thể chế tạo tại Việt Nam và cả lao động phổ thông sang các công trình mà họ làm tổng thầu. Đối với các công trình lớn như các nhà máy Nhiệt điện Cà Mau, Nhơn Trạch 1, Uông Bí… dù được giao cho các doanh nghiệp trong nước làm tổng thầu EPC, nhưng hầu hết phần thiết bị có giá trị cao lại được các nhà thầu Việt Nam giao cho các nhà thầu phụ nước ngoài đảm nhiệm.
Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu cơ khí Nguyễn Chỉ Sáng, trong số 21 nhà máy xi măng, loại trừ xi măng Sông Thao do Tổng công ty Lắp máy Việt Nam làm tổng thầu EPC có tỷ lệ nội địa hóa 40%. Các dự án còn lại do Trung Quốc làm tổng thầu thì tỷ lệ nội địa hóa là 0%! Ngay cả các dự án của ngành than cũng lựa chọn giải pháp nhập khẩu các thiết bị cơ khí thay vì thiết kế và chế tạo trong nước.
Việc để các nhà thầu nước ngoài “thâu tóm” hầu hết các dự án trọng điểm đã dẫn đến hệ lụy là nhân công của ngành cơ khí trong nước mất việc, gia công đạt giá trị gia tăng thấp, còn nền kinh tế bị thiệt hại toàn diện. Tiêu biểu như tại Nhà máy alumin Lâm Đồng, nhà thầu Trung Quốc “ôm” gói thầu 466 triệu USD, nhưng chỉ giao lại cho Việt Nam 170 tỷ đồng, không tới 8 triệu USD. Tương tự, Nhà máy alumin Nhân Cơ có giá trị hợp đồng 499 triệu USD, thì giao thầu phụ Việt Nam vỏn vẹn có 53 tỷ đồng, khoảng 2,5 triệu USD!
Rào cản chính sách
Theo các chuyên gia kinh tế, nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do các chính sách hiện nay chưa ủng hộ, thậm chí gây bất lợi cho doanh nghiệp cơ khí trong nước. Trong đó, rào cản của Luật Đấu thầu là một minh chứng, khi quá ưu tiên các nhà thầu có giá bỏ thầu thấp nhưng chưa quan tâm đến nguồn gốc xuất xứ về chất lượng thiết bị.
Đây không chỉ là nguyên nhân khiến các nhà thầu trong nước vốn rất yếu về thực lực tài chính thua Trung Quốc, mà ngay cả các nhà thầu giàu tiềm lực trên thế giới cũng khó vượt qua. Đối với vấn đề tài chính, nhiều dự án thực hiện chỉ định thầu EPC là do nhà thầu Trung Quốc thu xếp từ nguồn vay Trung Quốc với lãi suất thấp, thủ tục vay đơn giản càng khiến các nhà thầu khác không thể cạnh tranh về giá.
Theo ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch VAMI, để ngăn chặn tình trạng này, Chính phủ cần có biện pháp giám sát, kiểm tra, chế tài việc nhiều dự án trọng điểm quốc gia như nhiệt điện, khai khoáng, xi măng… do nhà thầu Trung Quốc thực hiện, không tạo điều kiện cho thầu phụ trong nước, đặc biệt là những dự án sử dụng lao động phổ thông trong công trình.
Trên thực tế, ngoài một số nỗ lực đã đạt được, trong thời gian qua ngành cơ khí trong nước còn một số hạn chế, trong đó rất thiếu vốn để đầu tư mở rộng phát triển sản xuất, nâng cao công nghệ. Theo VAMI, hiện có tới 50% các doanh nghiệp thuộc hội đang thiếu vốn. Do không có vốn, doanh nghiệp không thể đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất, dẫn đến sức cạnh tranh còn yếu so với nước ngoài. Do đó, hiện 80% thị trường cơ khí trong nước thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài. Ngoài ra, những khâu quan trọng như đúc, tạo phôi, công nghệ nhiệt luyện, thiết kế và đào tạo nguồn nhân lực... cũng chưa được đầu tư nhiều. Vì vậy, mặc dù tỷ lệ nội địa hóa đã được nâng lên trong các năm qua nhưng tỷ lệ gia tăng về giá trị gia tăng của ngành còn thấp. Theo Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp Phan Đăng Tuất, hiện mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 18 tỷ USD máy móc thiết bị.
Điều này cho thấy thị trường Việt Nam rất tiềm năng, nhưng ngành cơ khí với một số hạn chế nhất định, không thể có tham vọng tự chế tạo và thay thế hoàn toàn nhập khẩu. Do đó, trước mắt để đưa ngành cơ khí Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cần ưu tiên phát triển những sản phẩm, công đoạn mà Việt Nam có thế mạnh hoặc có thị trường tiêu thụ lớn. Mặt khác, lựa chọn một số sản phẩm cơ khí chế tạo trong nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm để tập trung đầu tư. Đặc biệt, nên dành vốn hoặc bảo lãnh cho vay nước ngoài để gấp rút đầu tư những nhà máy quan trọng, có công nghệ tiên tiến để chế tạo thiết bị đồng bộ.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Lò đốt chất thải rắn sinh hoạt - sự sáng tạo cần thiết
Các nhà nghiên cứu của Đại học Bách khoa (Hà Nội) và Công ty TNHH Đức Minh vừa cho ra đời giải pháp công nghệ mới: Lò đốt chất thải rắn sinh hoạt BD-ANPHA.
Thiết kế nhỏ gọn, vận hành đơn giản
Hiện nay, tại nhiều khu vực nông thôn, thị trấn, thị tứ... trong cả nước, tình trạng rác thải tự phát ngày càng nhiều nhưng không được xử lý, gây tác động xấu tới môi trường và sức khỏe người dân.
Điểm đặc biệt nhất của lò là cơ chế vận hành trên cơ sở đối lưu tự nhiên, không cần sử dụng đến dầu hoặc điện để làm nhiên liệu đốt.
Với thiết kế nhỏ, gọn không chiếm nhiều diện tích, lò đốt rác đã được cấp chứng nhận độc quyền kiểu dáng công nghiệp số 18405 ngày 4/7/2012 của Cục Sở hữu trí tuệ. Cấu tạo lò đốt bao gồm các môđun hợp thành rất tiện lợi cho việc xây dựng và lắp đặt. Trong đó môđun chính là phần thân lò bao gồm buồng đốt sơ cấp, thứ cấp và buồng tách bụi, các môđun còn lại đều áp dụng khoa học công nghệ và vật liệu tốt nhất để đảm bảo độ bền và các chỉ tiêu chất lượng khí thải.
Trong quá trình hoạt động, sau khi rác thải được cấp vào buồng đốt sơ cấp, nhờ ảnh hưởng của nhiệt bức xạ ra từ tường lò, nhiệt độ trong lò đốt được nâng lên dần và xảy ra các quá trình cháy, sấy khô, thoát chất bốc và cháy chất bốc.
Quá trình đốt chất thải rắn trong thiết bị được kiểm soát dễ dàng, duy trì nhiệt độ cao thường xuyên trên 1000OC để giúp cháy kiệt rác thải, giảm trên 90% thể tích cần chôn lấp. Lò cũng được trang bị thêm bộ phận làm lạnh và bộ lọc bụi bảo đảm khí thải luôn có nhiệt độ thấp và sạch trước khi thải ra ngoài.
Chiều cao ống khói được tính toán một cách phù hợp, ít nhất trên 15m tính từ mặt đáy lò. Khí lò đốt trước khi thải ra môi trường đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp QCVN 19:2009/BTNMT và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải công nghiệp QCVN 30:2012 của Bộ Tài nguyên và môi trường.
Lò đốt rác có nhiều ưu điểm nổi bật như: chiếm ít diện tích, quy trình lắp đặt nhanh, vận hành đơn giản, dễ bảo trì sửa chữa và giá thành chỉ bằng 50% các sản phẩm nhập ngoại có cùng công suất... Vì thế, lò đốt chất thải rắn BD–ANPHA có thể được sản xuất và lắp đặt với những quy mô khác nhau theo yêu cầu sử dụng, để xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các khu vực thành thị, nông thôn, miền núi, hải đảo và cả các loại rác thải công nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế và môi trường bền vững.
Ứng dụng thành công
Mô hình lò đốt chất thải rắn sinh hoạt BD - ANPHA đã được đưa vào sử dụng thí điểm tại huyện Nga Sơn, Thanh Hóa bước đầu đã cho kết quả khả quan. Với kinh phí đầu tư là 2 tỷ đồng, sau hơn 2 tháng đưa vào vận hành, trung bình lò đốt tiêu hủy khoảng 10 - 12 tấn rác thải/ngày, khả năng xử lý rác thải rât triệt để, không khói, không mùi, không sinh ra nước rỉ rác, không ô nhiễm môi trường. Nồng độ khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường QCVN 30 – 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Bình quân mỗi giờ lò đốt chất thải rắn sinh hoạt BD-Anpha xử lý được 500 kg chất thải rắn (tương đương 2 m3/giờ). Khi vận hành, lò đốt này không tiêu hao năng lượng trong quá trình đốt; khả năng tách bụi đến 99%, khói ra hoàn toàn sạch. Đặc biệt, tro xỉ được cháy kiệt, có thể dùng làm phân bón cho đất nông nghiệp, dùng làm phụ gia đóng gạch không nung, rải đường hoặc đem đi chôn lấp, vận hành đơn giản không cần công nhân có trình độ cao.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Thiết kế nhỏ gọn, vận hành đơn giản
Hiện nay, tại nhiều khu vực nông thôn, thị trấn, thị tứ... trong cả nước, tình trạng rác thải tự phát ngày càng nhiều nhưng không được xử lý, gây tác động xấu tới môi trường và sức khỏe người dân.
Điểm đặc biệt nhất của lò là cơ chế vận hành trên cơ sở đối lưu tự nhiên, không cần sử dụng đến dầu hoặc điện để làm nhiên liệu đốt.
Với thiết kế nhỏ, gọn không chiếm nhiều diện tích, lò đốt rác đã được cấp chứng nhận độc quyền kiểu dáng công nghiệp số 18405 ngày 4/7/2012 của Cục Sở hữu trí tuệ. Cấu tạo lò đốt bao gồm các môđun hợp thành rất tiện lợi cho việc xây dựng và lắp đặt. Trong đó môđun chính là phần thân lò bao gồm buồng đốt sơ cấp, thứ cấp và buồng tách bụi, các môđun còn lại đều áp dụng khoa học công nghệ và vật liệu tốt nhất để đảm bảo độ bền và các chỉ tiêu chất lượng khí thải.
Trong quá trình hoạt động, sau khi rác thải được cấp vào buồng đốt sơ cấp, nhờ ảnh hưởng của nhiệt bức xạ ra từ tường lò, nhiệt độ trong lò đốt được nâng lên dần và xảy ra các quá trình cháy, sấy khô, thoát chất bốc và cháy chất bốc.
Quá trình đốt chất thải rắn trong thiết bị được kiểm soát dễ dàng, duy trì nhiệt độ cao thường xuyên trên 1000OC để giúp cháy kiệt rác thải, giảm trên 90% thể tích cần chôn lấp. Lò cũng được trang bị thêm bộ phận làm lạnh và bộ lọc bụi bảo đảm khí thải luôn có nhiệt độ thấp và sạch trước khi thải ra ngoài.
Chiều cao ống khói được tính toán một cách phù hợp, ít nhất trên 15m tính từ mặt đáy lò. Khí lò đốt trước khi thải ra môi trường đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp QCVN 19:2009/BTNMT và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt chất thải công nghiệp QCVN 30:2012 của Bộ Tài nguyên và môi trường.
Lò đốt rác có nhiều ưu điểm nổi bật như: chiếm ít diện tích, quy trình lắp đặt nhanh, vận hành đơn giản, dễ bảo trì sửa chữa và giá thành chỉ bằng 50% các sản phẩm nhập ngoại có cùng công suất... Vì thế, lò đốt chất thải rắn BD–ANPHA có thể được sản xuất và lắp đặt với những quy mô khác nhau theo yêu cầu sử dụng, để xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các khu vực thành thị, nông thôn, miền núi, hải đảo và cả các loại rác thải công nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế và môi trường bền vững.
Ứng dụng thành công
Mô hình lò đốt chất thải rắn sinh hoạt BD - ANPHA đã được đưa vào sử dụng thí điểm tại huyện Nga Sơn, Thanh Hóa bước đầu đã cho kết quả khả quan. Với kinh phí đầu tư là 2 tỷ đồng, sau hơn 2 tháng đưa vào vận hành, trung bình lò đốt tiêu hủy khoảng 10 - 12 tấn rác thải/ngày, khả năng xử lý rác thải rât triệt để, không khói, không mùi, không sinh ra nước rỉ rác, không ô nhiễm môi trường. Nồng độ khí thải đạt tiêu chuẩn môi trường QCVN 30 – 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Bình quân mỗi giờ lò đốt chất thải rắn sinh hoạt BD-Anpha xử lý được 500 kg chất thải rắn (tương đương 2 m3/giờ). Khi vận hành, lò đốt này không tiêu hao năng lượng trong quá trình đốt; khả năng tách bụi đến 99%, khói ra hoàn toàn sạch. Đặc biệt, tro xỉ được cháy kiệt, có thể dùng làm phân bón cho đất nông nghiệp, dùng làm phụ gia đóng gạch không nung, rải đường hoặc đem đi chôn lấp, vận hành đơn giản không cần công nhân có trình độ cao.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Tích hợp "màn hình ảo" lên kính gió xe hơi
Hãng xe Jaguar Land Rover đang phát triển một loại kính chắn gió thông minh dành cho xe hơi có khả năng hiển thị các thông tin về tốc độ, đường đua, thông tin vòng đua... theo thời gian thực. Kèm theo đó là khả năng giả lập Ghost Car, giả lập đường đua dành cho luyện tập và điều khiển một số tính năng của xe bằng cử chỉ tay.
Với hệ thống này, Jaguar Land Rover sẽ biến kính chắn gió của xe giống như trong... game hơn. Nó có thể hiển thị tốc độ hiện tại của xe, số (Gear), thứ hạng hiện tại (nếu đang trong vòng đua), thời gian vòng đua, thông tin của những chiếc xe khác đang chạy phía trước.
Chưa hết, bên dưới mặt đường còn có một đường (Line) màu xanh lá cho biết đó là đường đi tối ưu dành cho xe, Line này sẽ đổi màu sang vàng, cam, hoặc đỏ khi bạn chuẩn bị vào cua, đóng vai trò như là một hệ thống trợ giúp trong việc đạp phanh, dựa vào màu sắc của Line mà người lái sẽ biết khi nào nên đạp phanh nhiều hay ít.
Ngoài ra nó còn có một chương trình rất hay đó là Ghost Car, hệ thống sẽ giả lập lại những chiếc xe ảo khác và cho chúng chạy liên tục trên đường cùng với bạn, dữ liệu của chiếc xe đó được lưu lại từ những lần chạy trước của chính bạn hoặc của những tay đua khác, người lái sẽ dựa vào đó để so sánh với hiệu quả lái xe hiện tại của mình.
Thêm vào đó hãng còn muốn tích hợp luôn cả tính năng điều khiển bằng cử chỉ tay để hạn chế bớt một số phím cứng trên bảng điều khiển của xe. Người ta sẽ xem xét coi chức năng nên điều khiển bằng cử chỉ tay và cái nào thì nên dùng bằng phím cứng để tạo ra sự tiện lợi và thoải mái nhất cho người ngồi trong xe. Hãng này còn cho biết họ sẽ phát triển luôn các tính năng dùng camera và màn hình điện tử để thay thế cho kính chiếu hậu, chức năng chống lóa khi gặp Mặt Trời và các loại bản đồ định vị bằng vệ tinh.
Dự kiến, hệ thống của Jaguar Land Rover sẽ được thương mại hóa trong vòng vài năm tới.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Với hệ thống này, Jaguar Land Rover sẽ biến kính chắn gió của xe giống như trong... game hơn. Nó có thể hiển thị tốc độ hiện tại của xe, số (Gear), thứ hạng hiện tại (nếu đang trong vòng đua), thời gian vòng đua, thông tin của những chiếc xe khác đang chạy phía trước.
Chưa hết, bên dưới mặt đường còn có một đường (Line) màu xanh lá cho biết đó là đường đi tối ưu dành cho xe, Line này sẽ đổi màu sang vàng, cam, hoặc đỏ khi bạn chuẩn bị vào cua, đóng vai trò như là một hệ thống trợ giúp trong việc đạp phanh, dựa vào màu sắc của Line mà người lái sẽ biết khi nào nên đạp phanh nhiều hay ít.
Ngoài ra nó còn có một chương trình rất hay đó là Ghost Car, hệ thống sẽ giả lập lại những chiếc xe ảo khác và cho chúng chạy liên tục trên đường cùng với bạn, dữ liệu của chiếc xe đó được lưu lại từ những lần chạy trước của chính bạn hoặc của những tay đua khác, người lái sẽ dựa vào đó để so sánh với hiệu quả lái xe hiện tại của mình.
Thêm vào đó hãng còn muốn tích hợp luôn cả tính năng điều khiển bằng cử chỉ tay để hạn chế bớt một số phím cứng trên bảng điều khiển của xe. Người ta sẽ xem xét coi chức năng nên điều khiển bằng cử chỉ tay và cái nào thì nên dùng bằng phím cứng để tạo ra sự tiện lợi và thoải mái nhất cho người ngồi trong xe. Hãng này còn cho biết họ sẽ phát triển luôn các tính năng dùng camera và màn hình điện tử để thay thế cho kính chiếu hậu, chức năng chống lóa khi gặp Mặt Trời và các loại bản đồ định vị bằng vệ tinh.
Dự kiến, hệ thống của Jaguar Land Rover sẽ được thương mại hóa trong vòng vài năm tới.
Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)










