Thứ Hai, 28 tháng 7, 2014

Công nghệ cảm biến laser mới cho ô tô tự lái

Hệ thống mới do các nhà nghiên cứu tại trường Đại học California, Hoa Kỳ chế tạo có thể cảm biến ở khoảng cách dài hơn 9m, gấp 10 lần mức các hệ thống laser công suất thấp hiện nay có thể đạt được.

Công nghệ này khi được phát triển hơn nữa, sẽ được áp dụng để chế tạo các hệ thống tạo ảnh 3D nhỏ, giá rẻ có tiềm năng ứng dụng đặc biệt cho ô tô tự lái xe, điện thoại thông minh và các trò chơi điện tử tương tác như Microsoft Kinect, mà không cần các hộp điện tử hoặc hộp quang học cỡ lớn, cồng kềnh.

Hệ thống mới dựa vào LIDAR (radar ánh sáng), công nghệ tạo ảnh 3D sử dụng ánh sáng để cung cấp thông tin phản hồi về thế giới xung quanh nó. Hệ thống này phát ra ánh sáng laser tác động vào một đối tượng và sau đó có thể cho biết khoảng cách giữa hệ thống và đối tượng đó bằng cách đo những thay đổi về tần số ánh sáng phản xạ trở lại. Hệ thống còn có thể được sử dụng để giúp ô tô tự lái tránh các chướng ngại vật trên đường hoặc để giúp người chơi trò chơi điện tử xác định thời điểm cần nhảy lên, lắc bàn tay hoặc dùng vợt đánh vào quả bóng tennis trên sân chơi tưởng tượng.

Trái lại, laser hiện được sử dụng trong tạo ảnh LIDAR độ phân giải cao tiêu tốn điện năng và có giá thành cao. Các hệ thống trò chơi cần có các hộp thiết bị lớn, cồng kềnh và người chơi phải đứng cách hơn 1m mới thích hợp để chơi. Độ xốp cũng là vấn đề đối với ô tô không người lái và cần phải gắn máy ảnh 3D lớn trên mui xe. Các nhà nghiên cứu đã tìm cách thu nhỏ kích thước và mức tiêu thụ điện năng của hệ thống LIDAR mà không làm ảnh hưởng đến khả năng xác định khoảng cách. Trong hệ thống mới, nhóm nghiên cứu đã sử dụng một loại LIDAR gọi là sóng liên tục điều chế tần số (FMCW) đảm bảo bộ tạo ảnh có độ phân giải tốt với mức tiêu thụ điện thấp. Hệ thống này phát ra ánh sáng laser "lệch tần" (nghĩa là tần số của nó tăng hoặc giảm) vào một đối tượng và sau đó đo những thay đổi tần số ánh sáng được phản xạ trở lại.

Để tránh những hạn chế về kích thước, điện năng và chi phí, nhóm nghiên cứu đã khai thác loại laser gọi là laser phát xạ bề mặt hốc đứng (VCSELs) điều chỉnh hệ thống vi cơ điện tử (MEMS). Các bộ phận của hệ thống vi cơ điện tử có thể giúp thay đổi tần số của ánh sáng laser, trong khi laser phát xạ bề mặt hốc đứng là loại laser bán dẫn tích hợp giá rẻ, tiêu thụ ít điện năng. Bằng cách sử dụng thiết bị MEMS ở tần số tự nhiên tại đó vật liệu rung, các nhà nghiên cứu có thể khuếch đại tín hiệu của hệ thống mà không tiêu tốn nhiều điện năng. Kế hoạch tiếp theo của nhóm nghiên cứu bao gồm tích hợp laser phát xạ bề mặt hốc đứng, lượng tử ánh sáng và thiết bị điện tử vào chíp. Việc gia cố các bộ phận này sẽ mở ra một loạt ứng dụng mới như sử dụng bàn tay của bạn giống như Kinect để tắt chuông từ khoảng cách xa hơn 9m.

Hình ảnh: Công nghệ cảm biến laser mới cho ô tô tự lái

==========================

 Hệ thống mới do các nhà nghiên cứu tại trường Đại học California, Hoa Kỳ chế tạo có thể cảm biến ở khoảng cách dài hơn 9m, gấp 10 lần mức các hệ thống laser công suất thấp hiện nay có thể đạt được.

 Công nghệ này khi được phát triển hơn nữa, sẽ được áp dụng để chế tạo các hệ thống tạo ảnh 3D nhỏ, giá rẻ có tiềm năng ứng dụng đặc biệt cho ô tô tự lái xe, điện thoại thông minh và các trò chơi điện tử tương tác như Microsoft Kinect, mà không cần các hộp điện tử hoặc hộp quang học cỡ lớn, cồng kềnh.

         Hệ thống mới dựa vào LIDAR (radar ánh sáng), công nghệ tạo ảnh 3D sử dụng ánh sáng để cung cấp thông tin phản hồi về thế giới xung quanh nó. Hệ thống này phát ra ánh sáng laser tác động vào một đối tượng và sau đó có thể cho biết khoảng cách giữa hệ thống và đối tượng đó bằng cách đo những thay đổi về tần số ánh sáng phản xạ trở lại. Hệ thống còn có thể được sử dụng để giúp ô tô tự lái tránh các chướng ngại vật trên đường hoặc để giúp người chơi trò chơi điện tử xác định thời điểm cần nhảy lên, lắc bàn tay hoặc dùng vợt đánh vào quả bóng tennis trên sân chơi tưởng tượng.

         Trái lại, laser hiện được sử dụng trong tạo ảnh LIDAR độ phân giải cao tiêu tốn điện năng và có giá thành cao. Các hệ thống trò chơi cần có các hộp thiết bị lớn, cồng kềnh và người chơi phải đứng cách hơn 1m mới thích hợp để chơi. Độ xốp cũng là vấn đề đối với ô tô không người lái và cần phải gắn máy ảnh 3D lớn trên mui xe. Các nhà nghiên cứu đã tìm cách thu nhỏ kích thước và mức tiêu thụ điện năng của hệ thống LIDAR mà không làm ảnh hưởng đến khả năng xác định khoảng cách. Trong hệ thống mới, nhóm nghiên cứu đã sử dụng một loại LIDAR gọi là sóng liên tục điều chế tần số (FMCW) đảm bảo bộ tạo ảnh có độ phân giải tốt với mức tiêu thụ điện thấp. Hệ thống này phát ra ánh sáng laser "lệch tần" (nghĩa là tần số của nó tăng hoặc giảm) vào một đối tượng và sau đó đo những thay đổi tần số ánh sáng được phản xạ trở lại.

         Để tránh những hạn chế về kích thước, điện năng và chi phí, nhóm nghiên cứu đã khai thác loại laser gọi là laser phát xạ bề mặt hốc đứng (VCSELs) điều chỉnh hệ thống vi cơ điện tử (MEMS). Các bộ phận của hệ thống vi cơ điện tử có thể giúp thay đổi tần số của ánh sáng laser, trong khi laser phát xạ bề mặt hốc đứng là loại laser bán dẫn tích hợp giá rẻ, tiêu thụ ít điện năng. Bằng cách sử dụng thiết bị MEMS ở tần số tự nhiên tại đó vật liệu rung, các nhà nghiên cứu có thể khuếch đại tín hiệu của hệ thống mà không tiêu tốn nhiều điện năng. Kế hoạch tiếp theo của nhóm nghiên cứu bao gồm tích hợp laser phát xạ bề mặt hốc đứng, lượng tử ánh sáng và thiết bị điện tử vào chíp. Việc gia cố các bộ phận này sẽ mở ra một loạt ứng dụng mới như sử dụng bàn tay của bạn giống như Kinect để tắt chuông từ khoảng cách xa hơn 9m.

Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093

Khai thác khí đốt có những phát minh mới

Các nhà khoa học Nga vừa phát minh phương pháp mới về khai thác dầu và khí đốt bằng cách thay mũi khoan bằng chùm tia laser có khả năng thâm nhập những nơi khó tiếp cận, làm tăng đến 90% trích xuất hydrocarbon, trong khi phương pháp đang được vận dụng hiện nay chỉ thu từ 30 - 40% dự trữ.

Việc sử dụng công nghệ sẽ cho phép trích xuất hầu hết dầu và khí đốt từ các vỉa. Một lợi thế khác nữa là tốc độ khai thác dầu sẽ tăng gấp 3-4 lần phương pháp không gây ô nhiễm cho môi trường xung quanh.


Phát minh mở ra cơ hội làm việc ở các giếng khoan đã bị đóng cửa do sự bất lực của phương pháp khai thác cũ.

Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093

Công nghệ kết nối thông qua biển số xe hơi


General Motors giới thiệu ứng dụng dành cho điện thoại smartphone theo đó chỉ cần quét biển số xe là có thể liên lạc được với chủ xe dù không biết người đó là ai.

Bộ phận nghiên cứu và phát triển của General Motors tại Trung Quốc giới thiệu một ứng dụng mới dành cho smartphone có tên DiDi Plate, có khả năng kết nối đến những lái xe khác, bằng cách đơn giản là quét biển số xe của họ thông qua carmera của điện thoại.

GM cho biết nếu muốn làm quen với một cô nàng chạy chiếc xe thể thao trước mặt, hay muốn nhắn nhủ điều gì đó với cái gã đỗ xe chắn lối đi thật đơn giản khi sử dụng ứng dụng này. Sau khi quét biển số có thể kết nối tới chủ xe mà không cần biết người đó có sử dụng ứng dụng này hay không.
Các nhà nghiên cứu giao thông cho biết, ứng dụng này giúp các lái xe trao đổi với nhau dễ dàng, thông qua đó có thể điều chỉnh cách chạy xe trên đường cho hiệu quả. Tuy nhiên, ảnh hưởng xấu của việc này là khiến các lái xe dễ mất đi quyền riêng tư, hay khi giải quyết với nhau trên đường.

Hình ảnh: Công nghệ kết nối thông qua biển số xe hơi

==========================

General Motors giới thiệu ứng dụng dành cho điện thoại smartphone theo đó chỉ cần quét biển số xe là có thể liên lạc được với chủ xe dù không biết người đó là ai.

Bộ phận nghiên cứu và phát triển của General Motors tại Trung Quốc giới thiệu một ứng dụng mới dành cho smartphone có tên DiDi Plate, có khả năng kết nối đến những lái xe khác, bằng cách đơn giản là quét biển số xe của họ thông qua carmera của điện thoại.

         GM cho biết nếu muốn làm quen với một cô nàng chạy chiếc xe thể thao trước mặt, hay muốn nhắn nhủ điều gì đó với cái gã đỗ xe chắn lối đi thật đơn giản khi sử dụng ứng dụng này. Sau khi quét biển số có thể kết nối tới chủ xe mà không cần biết người đó có sử dụng ứng dụng này hay không.
         Các nhà nghiên cứu giao thông cho biết, ứng dụng này giúp các lái xe trao đổi với nhau dễ dàng, thông qua đó có thể điều chỉnh cách chạy xe trên đường cho hiệu quả. Tuy nhiên, ảnh hưởng xấu của việc này là khiến các lái xe dễ mất đi quyền riêng tư, hay khi giải quyết với nhau trên đường.

Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093

Thành tựu khoa học công nghệ nổi bật của Việt Nam

1. Giàn khoan tự nâng 90m nước

Đây là giàn khoan đầu tiên của Việt Nam có thể đạt tới độ sâu 90m nước, thuộc sở hữu của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN). Ở Việt Nam, dự án cơ khí này được tài trợ nhiều nhất. Sau khi dự án được lắp đặt thành công trên biển, Việt Nam có thể tự hào là quốc gia sở hữu giàn khoan có chất lượng nằm trong top 3 khu vực châu Á và top 10 trên thế giới.


2. Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt tái hoạt động


Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt đã hoạt động 3 lần trong nửa thế kỷ vừa qua, một lần vào năm 1963, một lần vào năm 1984, và lần gần đây nhất là vào năm 2011. Lần hoạt động thứ ba này diễn ra vào ngày 30/10/2011, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Điều này một lần nữa đã chứng minh rằng Việt Nam có khả năng cung cấp một nguồn năng lượng nguyên tử ổn định; nó cũng đánh dấu một bước phát triển trong việc sản xuất năng lượng trong nước nói chung.

3. Máy soi cắt lớp điện toán trong công nghiệp


Cũng là một loại máy chụp X quang, nhưng thay vì chỉ phát ra một tín hiệu của tia X đến với vật thể được chụp, máy soi cắt lớp điện toán sẽ phát ra nhiều tia X cùng một lúc từ những góc độ khác nhau. Máy được các nhà khoa học của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (Vietnam Atomic Energy Commission, VAEC) thiết kế và sản xuất. Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (The International Atomic Energy Agency, IAEA) đã đặt mua 6 chiếc máy nói trên.

4. Dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông


Dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông tân tiến nhất ở khu vực Đông Nam Á được xây dựng và đưa vào hoạt động bởi Trung tâm sản xuất thiết bị điện tử Viettel (một công ty con thuộc tập đoàn viễn thông Viettel). Dây chuyền có khả năng sản xuất khoảng 5 triệu sản phẩm USB, 3 triệu điện thoại di động, và 9 trăm nghìn máy tính cá nhân mỗi năm.

5. Phương pháp phẫu thuật nội soi cắt các khối u tuyến tụy


Khoa Phẫu thuật bụng - Bệnh viện 103, Hà Nội đã thành công trong việc xây dựng và hoàn thiện một phương pháp phẫu thuật nội soi có thể loại bỏ các khối u ở tuyến tụy. Đây là loại phẫu thuật cực kỳ phức tạp và liên quan đến các thiết bị kỹ thuật cao. Sự thành công của phương pháp này đánh dấu một cột mốc mới về phẫu thuật nội soi ổ bụng tại Việt Nam.

Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093

Ford dùng cà chua làm vật liệu chế tạo ôtô


Những nhà nghiên cứu tại Ford và Heinz đang khám phá việc sử dụng các sợi cà chua để phát triển thành một hợp chất vật liệu bền vững dùng trong sản xuất ô tô.

Có thể thấy rằng cà chua và ô tô không có một điểm chung nào. Nhưng những nhà nghiên cứu tại Công ty Ford và H.J. Heinz đã thấy khả năng có thể cho ra một loại hợp chất mang tính cách tân.

Những nhà nghiên cứu tại Ford và Heinz đang khám phá việc sử dụng các sợi cà chua để phát triển thành một hợp chất vật liệu bền vững dùng trong sản xuất ô tô. Đặc biệt, vỏ cà chua khô còn có thể được chế tạo thành khung dây trên xe ô tô Ford hoặc hộc đựng đồ để khách hàng có thể đựng tiền xu và những vật dụng nhỏ.

“Chúng tôi đang tìm hiểu xem liệu loại thực phẩm phụ trợ này có thể giúp ích cho ngành công nghiệp ô tô hay không? Mục tiêu của chúng tôi là phát triển một loại vật liệu bền, nhẹ đáp ứng được các yêu cầu cho những chiếc ô tô của mình, đồng thời giảm những tác động tổng thể tới môi trường” - Ellen Lee, chuyên viên kỹ thuật nghiên cứu về nhựa cho Ford cho biết.

Hai năm gần đây, Ford đã bắt đầu hợp tác với Heinz, Coca-Cola, Nike và Proter & Gamble để đẩy mạnh việc phát triển một loại nhựa 100% làm từ thực vật sử dụng để làm mọi thứ từ vải cho tới bao bì với những tác động tới môi trường thấp hơn so với những loại nhựa dầu mỏ đang được sử dụng hiện tại.
Tại Heinz, các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm những sáng kiến để tái chế và tái sử dụng vỏ, thân cây và hạt từ hơn 2 triệu tấn cà chua của công ty được sử dụng hàng năm để sản xuất ra sản phẩm được ưa chuộng nhất: tương cà chua Heinz. Và các nhà lãnh đạo của Heinz đã nhận được sự giúp đỡ thêm từ Ford.
Hình ảnh: Ford dùng cà chua làm vật liệu chế tạo ôtô

====================

Những nhà nghiên cứu tại Ford và Heinz đang khám phá việc sử dụng các sợi cà chua để phát triển thành một hợp chất vật liệu bền vững dùng trong sản xuất ô tô.

         Có thể thấy rằng cà chua và ô tô không có một điểm chung nào. Nhưng những nhà nghiên cứu tại Công ty Ford và H.J. Heinz đã thấy khả năng có thể cho ra một loại hợp chất mang tính cách tân.

         Những nhà nghiên cứu tại Ford và Heinz đang khám phá việc sử dụng các sợi cà chua để phát triển thành một hợp chất vật liệu bền vững dùng trong sản xuất ô tô. Đặc biệt, vỏ cà chua khô còn có thể được chế tạo thành khung dây trên xe ô tô Ford hoặc hộc đựng đồ để khách hàng có thể đựng tiền xu và những vật dụng nhỏ.

         “Chúng tôi đang tìm hiểu xem liệu loại thực phẩm phụ trợ này có thể giúp ích cho ngành công nghiệp ô tô hay không? Mục tiêu của chúng tôi là phát triển một loại vật liệu bền, nhẹ đáp ứng được các yêu cầu cho những chiếc ô tô của mình, đồng thời giảm những tác động tổng thể tới môi trường” - Ellen Lee, chuyên viên kỹ thuật nghiên cứu về nhựa cho Ford cho biết.

Hai năm gần đây, Ford đã bắt đầu hợp tác với Heinz, Coca-Cola, Nike và Proter & Gamble để đẩy mạnh việc phát triển một loại nhựa 100% làm từ thực vật sử dụng để làm mọi thứ từ vải cho tới bao bì với những tác động tới môi trường thấp hơn so với những loại nhựa dầu mỏ đang được sử dụng hiện tại.
         Tại Heinz, các nhà nghiên cứu đang tìm kiếm những sáng kiến để tái chế và tái sử dụng vỏ, thân cây và hạt từ hơn 2 triệu tấn cà chua của công ty được sử dụng hàng năm để sản xuất ra sản phẩm được ưa chuộng nhất: tương cà chua Heinz. Và các nhà lãnh đạo của Heinz đã nhận được sự giúp đỡ thêm từ Ford.

         Vidhu Nagpal, Phó giám đốc, đóng gói R&D của Heinz cho biết: “Chúng tôi rất vui mừng vì công nghệ này đã được phê chuẩn. Mặc dù mới chỉ đang ở những bước đầu của nghiên cứu và vẫn còn rất nhiều câu hỏi cần được giải đáp, chúng tôi vẫn rất hứng khởi về những khả năng nó có thể mang lại cho cả Heinz và Ford, sự tiến bộ của vật liệu nhựa bền vững 100% từ thực vật”.

         Những cam kết của Ford để giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế là một phần của chiến lược phát triển bền vững toàn cầu của công ty để giảm bớt ô nhiễm môi trường đồng thời thúc đẩy sự phát triển của công nghệ xe tiết kiệm nhiên liệu trên toàn thế giới.

         Trong một vài năm gần đây, Ford đã sử dụng nhiều hơn những vật liệu phi kim loại và sinh học. Với hợp chất sợi xenlulo giúp tăng độ gắn kết và khung điện chụp ống khói làm từ vỏ trấu được giới thiệu trong năm ngoái, danh mục đầu tư sinh học của Ford giờ bao gồm tổng cộng 8 loại vật liệu đang được sản xuất như: vật liệu từ hợp chất dừa, vật liệu bông được tái chế để làm thảm và da bọc ghế, bọt đậu nành để làm tấm nệm và tựa đầu cho ghế ngồi.

         Ngoài ra, năm 2013, Ford đã giảm 30% lượng nước sử dụng trong việc sản xuất mỗi chiếc xe trên toàn cầu so với năm 2009, đạt mục tiêu đề ra sớm hơn 2 năm so với thời hạn. Các kế hoạch tiêp theo đang được tiến hành để tiếp tục cắt giảm 2% lượng nước sử dụng trong năm nay và thiết lập các mục tiêu dài hạn mới.

         Không chỉ đạt được mục tiêu về lượng nước sử dụng cho mỗi xe trước 2 năm so với kế hoạch, công ty còn cắt giảm tới 61% lượng nước sử dụng trên toàn cầu, tương đương 10 tỉ gallon từ năm 2000 - 2013. Tổng lượng nước được sử dụng tại các nhà máy của Ford trên toàn thế giới giảm từ 64 triệu m3 xuống còn 25 triệu m3 mỗi năm./.

Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093

Vidhu Nagpal, Phó giám đốc, đóng gói R&D của Heinz cho biết: “Chúng tôi rất vui mừng vì công nghệ này đã được phê chuẩn. Mặc dù mới chỉ đang ở những bước đầu của nghiên cứu và vẫn còn rất nhiều câu hỏi cần được giải đáp, chúng tôi vẫn rất hứng khởi về những khả năng nó có thể mang lại cho cả Heinz và Ford, sự tiến bộ của vật liệu nhựa bền vững 100% từ thực vật”.

Những cam kết của Ford để giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế là một phần của chiến lược phát triển bền vững toàn cầu của công ty để giảm bớt ô nhiễm môi trường đồng thời thúc đẩy sự phát triển của công nghệ xe tiết kiệm nhiên liệu trên toàn thế giới.

Trong một vài năm gần đây, Ford đã sử dụng nhiều hơn những vật liệu phi kim loại và sinh học. Với hợp chất sợi xenlulo giúp tăng độ gắn kết và khung điện chụp ống khói làm từ vỏ trấu được giới thiệu trong năm ngoái, danh mục đầu tư sinh học của Ford giờ bao gồm tổng cộng 8 loại vật liệu đang được sản xuất như: vật liệu từ hợp chất dừa, vật liệu bông được tái chế để làm thảm và da bọc ghế, bọt đậu nành để làm tấm nệm và tựa đầu cho ghế ngồi.

Ngoài ra, năm 2013, Ford đã giảm 30% lượng nước sử dụng trong việc sản xuất mỗi chiếc xe trên toàn cầu so với năm 2009, đạt mục tiêu đề ra sớm hơn 2 năm so với thời hạn. Các kế hoạch tiêp theo đang được tiến hành để tiếp tục cắt giảm 2% lượng nước sử dụng trong năm nay và thiết lập các mục tiêu dài hạn mới.

Không chỉ đạt được mục tiêu về lượng nước sử dụng cho mỗi xe trước 2 năm so với kế hoạch, công ty còn cắt giảm tới 61% lượng nước sử dụng trên toàn cầu, tương đương 10 tỉ gallon từ năm 2000 - 2013. Tổng lượng nước được sử dụng tại các nhà máy của Ford trên toàn thế giới giảm từ 64 triệu m3 xuống còn 25 triệu m3 mỗi năm./.

Tiếp nhận công nghệ tiên tiến từ FDI


Thông qua thu hút đầu tư FDI để tiếp nhận công nghệ tiên tiến là mục tiêu không mới, nhưng lâu nay vẫn bị coi nhẹ. Kết quả là Hà Nội đã bỏ phí rất nhiều cơ hội tiếp nhận các công nghệ mới từ các cường quốc công nghiệp phát triển thông qua thu hút FDI.

Trong 10 năm trở lại đây, tăng trưởng công nghiệp Hà Nội luôn gắn liền với nguồn vốn đầu tư và hoạt động của khối FDI. Trong toàn ngành, khối DN công nghiệp FDI này đã thu hút trên 142 nghìn lao động chiếm 20%; Giá trị XK trên 2 tỷ USD chiếm 60%; Vốn đầu tư trên 5 tỷ USD chiếm 18%. Dù chỉ có trên 400 DN, chiếm chưa đầy 5% tổng số, nhưng khối DN công nghiệp FDI đã chiếm tỷ trọng trên 40% giá trị công nghiệp trên địa bàn. Các con số trên tự nó đã thể hiện vị trí vai trò rất quan trọng, then chốt của khối FDI trước mắt cũng như lâu dài đối với ngành công nghiệp Hà Nội. Nhờ có FDI mà vùng Thủ Đô đã có các sản phẩm công nghiệp cao cấp cơ điện tử mang tính đột phá như: Máy in văn phòng, điện thoại, xe máy,… có giá trị cao, sản lượng lớn, kim ngạch XK lớn, chính thức đưa Việt Nam có tên trên bản đồ sản phẩm công nghiệp toàn cầu.

Thông qua FDI, đã có nhiều công nghệ mới lan tỏa, ứng dụng hiệu quả trong ngành công nghiệp Hà Nội. Chẳng hạn như công nghệ sơn tĩnh điện của Công ty Chinh hai; Công nghệ sản xuất tấm lợp kim loại của Cty Austnam: Công nghệ sản xuất cửa nhựa lõi thép của Eurowindow: Công nghệ thiết kế chế tạo khung nhà tiền chế của Zamil; Công nghệ hàn vi mạch điện tử của Daewoo Hanel… Thông qua FDI mà Hà Nội đã hình thành thêm được lực lượng đội ngũ công nhân tác phong công nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng mô hình quản trị tiên tiến, áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn quốc tế trong quy trình quản lý sản xuất và chất lượng. Nhờ quan hệ liên kết suôi, liên kết ngược giữa DN trong nước với đối tác ngoại, mà có các hiệu ứng lan tỏa công nghệ cho nhau khá hiệu quả. Ví dụ: Về liên kết ngược, Công ty Nhựa Hà Nội, Công ty Legroup,.. nhờ quan hệ hợp tác làm phụ tùng chi tiết xe máy cho Honda, Yamaha, … mà đã được các hãng này trợ giúp về tài liệu kỹ thuật, các giải pháp quản lý, kiểm soát chất lượng. Về liên kết xuôi, Công ty Dụng cụ Anmi, nhờ làm đại lý cho các hãng chế tạo dụng cụ cắt quốc tế mà đã nhận được chuyển giao kỹ thuật của các hãng này về công nghệ gia công phục hồi dụng cụ cắt. Thông qua các quan hệ hợp tác này mà các DN trong nước tại Hà Nội đã bắt đầu tham gia vào chuỗi giá trị sản phẩm công nghiệp mang tính toàn cầu.

Các DN Hà Nội có thể tiếp thu các công nghệ mới từ khối FDI bằng các hình thức như: Sao chép và bắt chước, quan sát học hỏi; Thông qua việc tiếp nhận và di chuyển lao động đã được đào tạo và có kinh nghiệm giữa khối FDI và DN trong nước; Thông qua hợp tác làm ăn trực tiếp giữa DN trong nước với FDI dưới hình thức là nhà cung cấp, là nhà phân phối, là nhà tư vấn,.. để nhận được các hỗ trợ trực tiếp từ phía họ.,…

Tuy nhiên, xét về tổng thể, mục tiêu thành phố đặt ra là tiếp thu công nghệ mới thông qua FDI để tạo ra giá trị gia tăng, chất lượng cao hơn, nhưng kết quả này còn khiêm tốn. Trên thực tế, hai hệ thống công nghiệp FDI và nội địa tại Hà Nội liên kết khá lỏng lẻo, hoạt động gần như biệt lập nên việc lan tỏa chuyển giao công nghệ trực tiếp đang rất hạn chế. Tiêu chí để đánh giá độ liên kết giữa DN FDI và DN trong nước là tỷ lệ nội địa hóa tại Việt Nam là khá thấp so với nhiều nước khu vực. Ngay trường hợp Công ty Honda là DN Nhật Bản có tỷ lệ nội địa hóa tới 90%, nhưng xét kỹ thì hầu hết được tạo bởi hệ thống các DN hỗ trợ FDI khác tại Việt Nam. Số DN Việt tham gia hệ thống này rất ít và đang bị các DN FDI khác đến từ Thái lan, Đài Loan,… lấn lướt. Dù công nghiệp Hà Nội đã thu hút được khá nhiều nhà đầu tư lớn FDI đến từ các cường quốc công nghệ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Hoa Kỳ,.., nhưng điều đó đã không hề tạo ra làn sóng tiếp thu công nghệ mới đối với DN trong nước. Nguyên nhân, về phía các nhà đầu tư lớn đang cho rằng Việt Nam chưa có đủ khả năng hấp thu công nghệ cao, vì vậy sẽ rất tốn kém và khó đạt hiệu quả khi triển khai. Do đó, họ mới chỉ đầu tư mạnh cho khâu lắp ráp là phân khúc công nghệ đơn giản, tạo ra giá trị thấp nhất, nhưng thu lợi nhuận nhanh nhất. Thêm vào đó, còn có nguyên nhân từ các DN trong nước do chưa nhận thức đẩy đủ, chưa thấy bị áp lực và chưa sẵn sàng cho việc tiếp nhận các công nghệ mới.
Việc chuyển giao công nghệ từ phía FDI chỉ mạnh mẽ khi mang lại lợi ích cho các nhà đầu tư và phải có cơ chế chính sách phù hợp cho từng giai đoạn. Phải nhìn nhận rất thực tế là chúng ta không thể đòi hỏi một chiều các nhà đầu tư FDI phải chuyển giao các công nghệ cao thuộc về bí quyết độc quyền về sở hữu trí tuệ.

Vừa qua, tổ chức Jica Nhật Bản đã rất tích cực hỗ trợ các DN Hà Nội theo hình thức tư vấn trực tiếp ngay tại DN bởi các chuyên gia tình nguyện Nhật Bản. Sự trợ giúp này từ phía Nhật Bản là miễn phí, nhưng đòi hỏi các DN Hà Nội phải rất nghiêm túc, khẩn trương và quyết tâm trong triển khai. Trong tương lai, Hà Nội phải đẩy mạnh hình thức chuyển giao công nghệ thông qua quan hệ tương tác trực tiếp giữa DN trong nước và đối tác FDI, vì đây là hình thức chuyển giao công nghệ rất có hiệu quả, đáp ứng được lợi ích thiết thực, có động lực cao cho cả hai phía.

Nhưng điều then chốt để các DN Hà Nội tiếp thu được công nghệ mới vẫn là phải cải thiện nhanh chóng năng lực tiếp thu công nghệ. Cụ thể: (1)Chú trọng đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu phát triển công nghệ R&D, (2) Lựa chọn kết hợp sử dụng các loại công nghệ khác nhau một cách có hiệu quả; (3) Tăng cường đào tạo phát triển trình độ nguồn nhân lực; (4) Bố trí nguồn vốn thường xuyên, đầy đủ cho đổi mới công nghệ (5) Tăng cường sự hợp tác liên kết theo nhiều hình thức với DN nước ngoài.

Cuối cùng, chính sách thu hút FDI của Hà Nội cần phải có sự thay đổi, phải có các quan điểm mới và giải pháp mới. Đã đến lúc phải có sự cân nhắc lựa chọn đúng, kiên quyết từ chối các dự án đầu tư có công nghệ thấp. Không quá lệch về các mục tiêu thu hút vốn, mục tiêu giải quyết việc làm, mục tiêu nhanh chóng lấp đầy khu CN,.. để rồi thu hút FDI bằng mọi giá. Đã đến lúc, Hà Nội tăng cường củng cố quan hệ với các đối tác truyền thống như Nhật Bản, Hàn Quốc, đồng thời hướng mạnh thu hút đầu tư các quốc gia có tiềm lực tài chính và công nghệ nguồn, nhất là Hoa Kỳ và EU. Phải có các chính sách ưu đãi cụ thể, không cào bằng để tập trung thu hút các công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới, nhất là trong lĩnh vực công nghệ cao.

Hướng đi mới của ngành cơ khí

Sau 9 năm triển khai thực hiện Chiến lược phát triển ngành cơ khí, đến nay, các doanh nghiệp cơ khí đã đạt được những kết quả nhất định nhưng cũng còn không ít âu lo về định hướng phát triển tương lai.

Ngày 26/12/2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 186/QĐ-TTg (Quyết định 186) phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam. Theo đó, mục tiêu đến năm 2010 ngành cơ khí đáp ứng 45-50% nhu cầu sản phẩm cơ khí cả nước, xuất khẩu đạt 30% giá trị sản lượng.
Những kết quả đáng ghi nhận

Theo báo cáo của Bộ Công Thương, kể từ khi Quyết định 186 được ban hành đến nay, ngành cơ khí đã đạt được một số thành tựu quan trọng.

Về công nghiệp đóng tàu, Việt Nam đã có thể đóng được các loại tàu có chất lượng, đạt tiêu chuẩn quốc tế như tàu chở hàng tải trọng từ 6.500 - 53.000 tấn; các loại tàu cao tốc phục vụ cho an ninh quốc phòng; các loại tàu container; tàu chở dầu thô cỡ 104.000 DWT; tàu chở ô tô 4.900 xe.

Về thiết bị toàn bộ, ngành cơ khí cũng đã đạt được nhiều thành tích đáng kể. Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam đã trở thành Tổng thầu EPC đầu tiên của Việt Nam khi trúng thầu các gói thầu số 2 và số 3 của nhà máy Lọc dầu Dung Quất, tiếp đến chế tạo phần lớn các thiết bị chính của nhà máy Nhiệt điện Na Dương, nhà máy Nhiệt Điện Phú Mỹ 3,4…

Ngành công nghiệp ô tô cũng đã sản xuất, lắp ráp được các loại xe buýt đến 80 chỗ với tỷ lệ nội địa hóa đến 40%, chế tạo ô tô tải nặng và xe chuyên dụng…

Ngành công nghiệp xe máy đã có phát triển đột phá khi thỏa mãn nhu cầu trong nước với tỷ lệ nội địa hóa 80-90 % và xuất khẩu khoảng 150.000 xe/năm.

Đối với các nhà máy thủy điện có công suất đến 300 MW, trước đây Việt Nam vẫn phải nhập khẩu các thiết bị cơ khí thủy công thì nay toàn bộ phần này các doanh nghiệp cơ khí trong nước đã có thể đảm nhận, thậm chí đối với cả nhà máy thủy điện lớn như Sơn La có công suất đến 2.400 MW.


Các ngành sản xuất cơ khí khác như sản xuất động cơ diesel các loại, sản xuất xe đạp, máy bơm nước, cầu trụ, cần trục các loại cũng đạt thành công đáng kể, đáp ứng 40% nhu cầu thị trường trong nước. Đã có động cơ diesel cỡ nhỏ xuất khẩu sang các nước Trung Đông, ASEAN…

Riêng ngành xe đạp đã đạt năng lực sản xuất 3 triệu xe/năm và phục vụ xuất khẩu với kim ngạch hàng trăm triệu USD/năm.

Đặc biệt, lần đầu tiên năm 2010 ngành cơ khí đã chế tạo và hạ thủy dàn khoan tự nâng có độ sâu 90m nước, thay thế hoàn toàn cho việc nhập khẩu, đây cũng là sản phẩm cơ khí ứng dụng công nghệ cao lần đầu tiên được tổ chức sản xuất tại Việt Nam với tỷ lệ nội địa hóa 35%.

Doanh nghiệp cơ khí khó khăn trong đấu thầu

Mặc dù đã làm chủ được công nghệ của một số sản phẩm nhưng theo nhìn nhận của các chuyên gia, mục tiêu mà Quyết định 186 đặt ra chưa đạt được, tính đến năm 2010 ngành cơ khí mới đáp ứng được khoảng 25-28% nhu cầu sản phẩm cơ khí của cả nước thay vì 45-50 % và giá trị xuất khẩu cũng mới dừng mức trên 20% .

Nhập khẩu cơ khí, trong đó nhập khẩu thiết bị máy móc để phục vụ sản xuất vẫn tăng và chiếm tỷ lệ cao, nếu như năm 2006 giá trị nhập khẩu cơ khí là 8,7 tỷ USD thì năm 2010 là 19,12 tỷ USD.

Ông Nguyễn Chỉ Sáng, Viện trưởng Viện nghiên cứu Cơ khí (Bộ Công Thương), nhìn nhận một trong những lý do khiến cho ngành cơ khí không đạt mục tiêu đề ra đó là quy định của Luật Đấu thầu chưa chặt chẽ, dẫn tới các doanh nghiệp trong nước khó cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, bởi trong đấu thầu không tính tới nguồn gốc xuất xứ, không tính tới tỷ lệ nội địa hóa của thiết bị...

Cùng với qua điểm trên, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) Nguyễn Văn Thụ nêu thực tế nhiều công trình sử dụng nguồn vốn nhà nước nhưng vẫn sử dụng các thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài.

Ngoài ra, việc thiếu giải pháp khả thi và hiệu quả gắn kết với các ngành công nghiệp khác dẫn đến việc ngành cơ khí đi chậm hơn.

Cần chính sách cụ thể về vốn và thị trường

Để tạo đà cho ngành cơ khí tiếp tục phát triển, đa số ý kiến của các doanh nghiệp đều cho rằng cần tạo điều kiện về vốn, thị trường.

Giám đốc Công ty Cổ phần Chế tạo thiết bị Đông Anh Trần Văn Quang cho rằng cần có những giải pháp mạnh hỗ trợ ngành cơ khí trong nước thông qua cơ chế tạo đơn hàng, chỉ định thầu hoặc chỉ đấu thầu trong nước các phần việc mà cơ khí trong nước thực hiện được.

Giám đốc Công ty Trường Hải Trần Bá Dương thì đề xuất xây dựng một thị trường phù hợp trong từng giai đoạn cho ngành cơ khí và có chính sách vốn cụ thể đối với từng lĩnh vực trong từng giai đoạn.

Ngoài ra ,một số ý kiến của các thành viên VAMI đề nghị nên coi phát triển cơ khí như phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, theo đó các ngành cần tiếp tục rà soát bố trí lại các lĩnh vực cơ khí theo nhóm, trên cơ sở đó bổ sung các chính sách ưu đãi và đặc biệt ưu đãi để phát triển một số lĩnh vực then chốt.

Đăng bởi CSKH - WLIKE - 0963.403.093